Mẹo đơn giản cải thiện sức khỏe não

Từ khi chúng ta được sinh ra cho đến khi chết, não liên tục tự điều chỉnh, làm mới chính nó. Hoạt động của chúng ta có thể tác động vào quá trình này. Những hoạt động lành mạnh dưới đây sẽ góp phần khiến não hoạt động hiệu quả hơn.

Tập luyện

Tập thể dục thường xuyên giúp não hoạt động hết khả năng bằng cách khiến cho các tế bào thần kinh nhân lên, tăng cường sự liên kết giữa chúng và tránh cho chúng khỏi bị tổn thương. Tập luyện mang đến hiệu quả bảo vệ não bằng cách tăng cường lưu thông máu tới não và giúp não hoạt động và học tập nhanh hơn.

Uống ít rượu

Điều này có vẻ “lạ” nhưng trên thực tế uống một lượng rượu nhỏ giúp não hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cần đảm bảo chỉ uống lượng nhỏ, nếu không sẽ phản tác dụng.

Kiểm soát đường huyết

Không phải những người bị tiểu đường mới cần kiểm soát lượng đường huyết. Những biến động lớn trong hàm lượng insulin của cơ thể có thể làm chậm phản ứng của não. Mặt khác, nếu hàm lượng insulin thấp cũng ảnh hưởng tới hoạt động não. Vì vậy, cần đảm bảo lượng insulin luôn trong tầm kiểm soát.

Mẹo đơn giản cải thiện sức khỏe não

Giảm xem TV

Nghiên cứu chỉ ra rằng những người xem TV nhiều hơn 2 giờ mỗi ngày dễ bị chẩn đoán mắc dạng nào đó của rối loạn chú ý như ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý). Cách đơn giản nhất để não hoạt động hiệu quả hơn trong trường hợp này là giảm xem TV.

Ăn uống lành mạnh

Nghiên cứu cho thấy những người ăn nhiều thịt tự nhiên, các loại ngũ cốc, hoa quả tươi có chỉ số IQ cao hơn những người ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn. Các dưỡng chất cần thiết cho cơ thể bị phân hủy khi sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, vì vậy nên tránh dùng những loại thực phẩm này.

Ăn nhiều thực phẩm chứa omega-3

Ăn nhiều cá hồi, cá ngừ, quả óc chó và các loại thực phẩm khác giàu axít béo omega-3. Nếu không thích ăn cá, bạn cần bổ sung dầu cá để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Cách này sẽ giúp máu lưu thông tới não và giảm viêm.

Bỏ hút thuốc

Hút thuốc làm trì trệ hoạt động não bằng cách giảm tốc độ và khả năng tư duy. Vì vậy, hãy cố gắng từ bỏ thói quen này càng sớm càng tốt.

BS Tuyết Mai

Theo Boldsky

Cách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnCách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnNhững loại ung thư thường gặp ở phụ nữNhững loại ung thư thường gặp ở phụ nữNhìn móng tay đoán bệnhNhìn móng tay đoán bệnh

(Univadis)

Những con số cần biết để bảo vệ sức khỏe, sống thọ

Bạn cần phải biết những xét nghiệm và những con số dưới đây có thể giúp bạn sống thọ hơn, thậm chí ngăn được những trường hợp đột tử.

Huyết áp

Chỉ số huyết áp tâm thu (trên) và huyết áp tâm trương (dưới) là những con số vô cùng quan trọng mà bạn cần phải nhớ nhằm ngăn ngừa các bệnh tim mạch, đột quỵ, suy thận và giảm thị lực. Cao huyết áp được cho là “sát thủ thầm lặng” bởi vì bạn có thể bị cao huyết áp mà đôi khi bạn không nhận ra. Theo thống kê thì có khoảng 1/3 số bệnh nhân cao huyết áp không quan tâm đến căn bệnh này vì cao huyết áp có thể không có triệu chứng ở một số người. Tuy nhiên, một khi huyết áp quá cao, sẽ xuất hiện các triệu chứng như sau: nhức đầu nghiêm trọng, mệt mõi, lú lẫn, rối lọan thị giác, đau ngực, khó thở, nhịp tim bất thường, máu trong nước tiểu...

Để giám sát huyết áp, những con số cần lưu ý như sau. Đối với huyết áp bình thường thì huyết áp tâm thu (số trên) nhỏ hơn 120mgHg và huyết áp tâm trương (số dưới) nhỏ hơn 80mmHg. Đối với tiền cao huyết áp thì huyết áp tâm thu có giá trị từ 120 - 139mmHg và huyết áp tâm trương có giá trị 80 - 89mmHg.

Những con số cần biết để bảo vệ sức khỏe, sống thọ

Đối với cao huyết áp nghiêm trọng thì có 2 mức. Mức 1 thì áp huyết tâm thu là 140 - 159mmHg và huyết áp tâm trương là 90 - 99mmHg. Mức 2 thì huyết áp tâm thu lớn hơn 160mmHg và huyết áp tâm trương lớn hơn 100mmHg.

Một con số khác cần phải quan tâm là sự khác biệt của áp suất tâm thu khi đo huyết áp ở 2 cánh tay. Những nguyên cứu mới nhất của các nhà nghiên cứu ở châu u cho thấy nếu giá trị huyết áp tâm thu ở 2 cánh tay khác nhau từ 10 - 15mmHg hay hơn thì bạn sẽ có rủi ro mắc các bệnh về tim mạch dù rằng những số đo này có giá trị bình thường.

Vòng bụng

Số đo vòng bụng cũng cũng là một con số ước đoán sức khỏe quan trọng. Nó cho biết khối lượng mở bao quanh bụng cũng như mỡ bao quanh các cơ quan nội tạng. Nhiều nghiên cứu cho thấy những người có quá nhiều mỡ bụng sẽ có tần suất rủi ro cao các bệnh như đái tháo đường týp 2, cao huyết áp, cao cholesterol và các bệnh về tim mạch.

Những con số cần biết để bảo vệ sức khỏe, sống thọ

Để đo vòng bụng, đơn giản bạn chỉ cần dùng thước dây đo ở vị trí rốn. Theo đánh giá của Viện Tim, Phổi và Huyết học Quốc gia (Hoa Kỳ) thì sức khỏe của bạn có vấn đề nếu vòng bụng của bạn có số đo như sau. Đối với nam: vòng bụng lớn hơn 94cm. Đối với nữ số đo vòng bụng lớn hơn 80cm. Vì vậy cần phải luyện tập hoặc có chế độ ăn uống thích hợp nhằm làm giảm vòng bụng.

Đường huyết

Để đo đường huyết, các thầy thuốc sẽ làm xét nghiệm gọi là xét nghiệm glucose huyết. Glucose trong cơ thể có từ thực phẩm chứa carbohydrate và glucose là một chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể. Tuy nhiên nếu quá nhiều glucose sẽ gây hại cho cơ thể. Glucose được kiểm soát bởi insulin vốn được sản xuất từ tụy tạng. Insulin cho phép đường huyết đi vào tế bào để biến thành năng lượng. Nếu tuyến tụy không tiết đủ insulin để điều hành lượng đường có trong máu. Lúc này bạn sẽ bị đường huyết cao (hyperglycaemic). Triệu chứng của đường huyết cao bao gồm: khát, mệt mỏi, giảm cân, đi tiểu nhiều, rối loạn thị giác...

Nồng độ đường huyết sẽ lên xuống trong ngày. Đối với những người không bị bệnh đái tháo đường thì nồng độ đường huyết thường là 70 - 80mg/dl. Đôi khi cũng có thể xuống khoảng 60mg/dl hoặc tăng lên khoảng 90mg/dl vẫn được xem là bình thường.

Những con số cần biết để bảo vệ sức khỏe, sống thọ

Cách tốt nhất để đo lượng đường trong máu là làm một xét nghiệm sau khi nhịn đói 8 tiếng. Sau đó ăn một bữa ăn rồi chờ 2 tiếng sau đo lại đường huyết

Ở xét nghiệm thứ nhất sau khi nhịn ăn 8 giờ nếu hàm lượng đường huyết lớn hơn 126mg/dl thì được xem là mắc bệnh đái tháo đường. Xét nghiệm thứ 2 là sau khi ăn một bữa ăn và chờ 2 tiếng rồi đo đường huyết, nếu lượng đường huyết sau xét nghiệm này cao hơn 200mg/dl thì được xem bị bệnh đái tháo đường. Những con số này cho thấy rằng cơ thể không sản xuất ra đủ insulin. Đồi với những người có nồng độ đường huyết khỏang 100 - 125mg/dl thì được xem là “tiền đái tháo đường” (prediabetic).

Hiểu được những con số bình thường và bất thường sẽ giúp bạn bảo vệ sức khỏe một cách hữu hiệu hơn. Giúp bạn phòng chống bệnh hoặc khi đã có bệnh xảy ra, những con số trên sẽ giúp bạn ổn định hoặc cải thiện tình trạng bệnh.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG (Australia)

Viêm họng dẫn đến mất tiếng

Tôi thường xuyên bị đau họng, lần này tôi bị đau đến mất cả tiếng. Xin bác sĩ tư vấn cho tôi biết mất tiếng như vậy là bệnh gì, làm thế nào để chữa bệnh mất tiếng?

Nguyễn Thị Thu (Bắc Giang)

Thanh quản là cơ quan tạo âm trong quá trình phát âm, rối loạn giọng là dấu hiệu thường gặp nhất khi có bệnh lý ở thanh quản biểu hiện bằng khàn tiếng ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng. Chị bị mất tiếng là một rối loạn giọng nặng, mất tiếng xuất hiện sau khi đau họng có thể do viêm họng sau đó viêm thanh quản làm phù nề, xung huyết dây thanh.

Ảnh minh họa (nguồn Internet).
Tuy nhiên có thể gặp một số bệnh lý khác ở thanh quản gây mất tiếng như liệt dây thanh do nhiễm virus. Để khẳng định chẩn đoán và điều trị chị cần khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng. Bác sĩ sẽ điều trị theo nguyên nhân đồng thời sẽ tìm nguyên nhân gây đau họng thường xuyên và tư vấn cho chị cách phòng tránh tái phát.

ThS. Nguyễn Hoàng Huy

Xử trí hăm tã ở trẻ sơ sinh

“Thủ phạm” gây hăm tã ở trẻ

Hăm tã là phản ứng của da khi hệ thống bài tiết tại da bị bít kín như đổ mồ hôi nhiều mà không được thông thoáng, nước tiểu đọng lại trong tã bỉm lâu, da bị tổn thương, hăm có thể gây ra mụn nhọt nếu như bé gãi vì ngứa ngáy, da sẽ bị trầy xước, dễ nhiễm khuẩn hoặc có thể nhiễm nấm do ẩm ướt. Hăm tã thường gặp ở trẻ dùng bỉm thường xuyên và tầm từ 3 đến 15 tháng tuổi.

Khi mặc bỉm thường xuyên, da bé bị chà xát vào bỉm gây hăm tã.

Khi mặc bỉm thường xuyên, da bé bị chà xát vào bỉm gây hăm tã.

Nguyên nhân gây hiện tượng hăm tã ở trẻ sơ sinh rất nhiều, nhưng dưới đây là một số “thủ phạm” gây hăm tã phổ biến ở trẻ sơ sinh.

Da bé bị ẩm ướt: Ngay cả những chiếc bỉm có khả năng hút ẩm cao cũng có thể gây ẩm ướt cho vùng da của bé. Nếu trẻ bị ẩm ướt trong thời gian dài, nó sẽ là cơ hội cho vi khuẩn trong phân kết hợp với nước tiểu để gây tình trạng hăm tã. Nếu nhiễm khuẩn nặng hơn thì hăm đã chuyển sang dạng viêm da.

Da bé bị chà xát với bỉm: Da bé bị chà xát vào bỉm cũng là một nguyên nhân gây hăm tã, đặc biệt là với trẻ sơ sinh, da trẻ rất nhạy cảm với hóa chất như hương thơm trong bỉm hay do chất tẩy rửa dùng giặt tã. Da trẻ sơ sinh mỏng manh nên ít có khả năng chống đỡ với chất gây viêm và sẽ dễ bị hăm tã hơn trẻ lớn hơn.

Đồ ăn lạ: Hiện tượng trẻ sơ sinh bị hăm tã do đồ ăn lạ phổ biến nhất là khi trẻ bắt đầu ăn dặm. Thức ăn mới lạ làm thay đổi thành phần của phân bé khiến cho bé đi đại tiện nhiều hơn bình thường. Vùng da xung quanh hậu môn của bé dễ tấy đỏ và hăm.

Nhiễm nấm: Có trường hợp trẻ hăm tã do nhiễm một loại nấm men hoặc nấm Candida. Nấm Candida rất phổ biến ở trẻ em, có ở mọi nơi trong môi trường. Nó phát triển tốt ở nơi ấm và ẩm, nhất là bên dưới tã lót.

Khi nào cần điều trị?

Khi trẻ bị hăm tã, những dấu hiệu sau thường xuất hiện và có thể thấy bằng mắt thường, đó là: đỏ da ở vùng quấn tã; đỏ da ở xung quang bộ phận sinh dục, kèm theo mùi khai. Vùng da đỏ có thể bắt đầu từ hậu môn của bé sau đó lan dần ra tới mông và đùi, da căng và có lốm đốm đỏ, nếu bội nhiễm thì ở giữa có mủ… Trẻ bị hăm da thường đau lúc đi tiêu, quấy nhiều, thậm chí kém ăn, ít ngủ rất khó chăm sóc.

Nên cho trẻ đi khám chuyên khoa da liễu nhi ngay nếu thấy có các dấu hiệu như: tình trạng hăm xấu hơn, lan rộng hơn và không hết sau 2-3 ngày. Hăm lan tới bụng, tay, lưng, mặt. Trẻ sốt, vùng da bị hăm tấy đỏ, nổi mụn, phồng, loét hoặc vết thương đầy mủ… thì có thể vùng da đó đã bị bội nhiễm hay nhiễm nấm.

Cần điều trị hăm tã đúng cách

Việc điều trị hăm tã cho trẻ còn tùy thuộc tình trạng hăm của trẻ. Hăm ở dạng nhẹ sẽ tự động khỏi không cần điều trị. Nếu được phát hiện sớm và xử lý ngay thì vùng da hăm sẽ nhanh chóng lành lặn. Quan trọng nhất là chú trọng vệ sinh cho bé. Phải rửa sạch vùng kín cho bé ngay sau khi đi vệ sinh bằng nước ấm, thấm khô và thay tã mới. Khi rửa cần nhẹ nhàng, tránh để bé đau và xây xước da thêm. Dùng khăn ướt có thể làm khô da bé, cần cẩn thận chọn loại không cồn và không mùi. Càng hạn chế cho bé dùng bỉm thì càng tốt. Luôn luôn rửa sạch tay trước và sau khi thay tã cho bé.

Trường hợp hăm tã nhẹ, chỉ cần bôi kem chống hăm vào các vết hăm. Làn da bé yêu có cơ chế bảo vệ vô cùng non yếu. Do đó nên lưu ý lựa chọn kem chống hăm có chứa chất dexpanthenol (chất tiền vitamin B5) để duy trì độ ẩm tối đa cho làn da của bé, giúp da nhanh hồi phục mà không làm khô da hay bong vẩy. Loại thuốc chống hăm có chứa lanolin (chiết xuất từ mỡ cừu tự nhiên) cũng rất tốt. Lanolin có cấu tạo lipid gần gũi với chất bã nhờn của người. Lanolin vừa có chức năng tạo “hàng rào bảo vệ” không cho da bé tiếp xúc với các tác nhân gây kích ứng da như nước tiểu, phân mà lại không ngăn cản sự trao đổi khí ở da bé, giúp da bé luôn khỏe mạnh. Loại kem có thành phần là kẽm oxyt hoặc có chiết xuất hydrocarbon cũng phù hợp để chống hăm cho bé, giữ vùng da bị ngứa không dính nước tiểu.

Không nên dùng phấn rôm để rắc vào chỗ hăm vì có thể làm nặng thêm vùng da đang bị tổn thương. Cũng không nên sử dụng các loại kem thoa có chứa corticoid trừ trường hợp được bác sĩ chỉ định và hướng dẫn cách sử dụng.

Nếu bị hăm ở dạng nặng hoặc có mủ, tốt nhất là không bôi kem. Sau khi vệ sinh xong, vệ sinh sạch sẽ cho bé rồi nhúng mông của bé vào chậu nước có pha baking soda (một bát nhỏ baking soda vào một chậu nước). Cách này giúp trung hòa axit trong phân và nước tiểu. Sau đó, lau khô bằng khăn mềm.

Với trường hợp nặng, hăm tã có bội nhiễm hoặc do nhiễm nấm ngày càng nặng hơn thì phải đưa bé đi khám để dùng thuốc. Bác sĩ sẽ căn cứ tình trạng bội nhiễm để kê thuốc cho bé. Có thể bé phải dùng thuốc hạ sốt (nếu bé sốt cao), thuốc kháng sinh đường uống khi bội nhiễm lan rộng, sử dụng dung dịch vệ sinh làm sạch vùng da bị tổn thương, kèm thuốc kháng khuẩn bôi tại chỗ có chứa kháng sinh, corticoid. Trường hợp bội nhiễm theo dạng viêm da thì phải cho bé dùng thuốc theo phác đồ trị viêm da.

Nếu hăm tã có dấu hiệu nhiễm nấm thì phải dùng kem chống nấm. Cha mẹ tuyệt đối không sử dụng nhiều loại kem bôi chống hăm mà không tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nhi vì điều này sẽ làm tăng nguy cơ dị ứng.

Không dùng chung kem chống hăm cho nhiều bé. Nếu ngón tay bạn đã chạm vào vùng da bé bị hăm thì bạn không dùng lại ngón tay đó để lấy kem trong hũ nữa mà dùng ngón tay khác để lấy thêm kem. Nếu có thể, bạn nên để da bé tiếp xúc với không khí trong khoảng thời gian ngắn sau khi thay bỉm. Việc này sẽ giúp bé cảm thấy dễ chịu, thoải mái hơn và các vết hăm cũng sẽ mau lành hơn.

BS. Hồng Hạnh

Kiểm soát cân nặng phòng thừa cân, béo phì ở trẻ

Trẻ cứ tăng cân đều đều dẫn đến thừa cân từ lúc nào cũng không hay biết. Vì vậy cần kiểm soát cân nặng ở mức “nên có” của trẻ để dự phòng tình trạng thừa cân - béo phì.

Đánh giá cân nặng, chiều cao bình thường của trẻ thế nào?

Điều này rất đơn giản bằng cách sử dụng 2 dụng cụ là cân và thước. Hàng tháng, bà mẹ cân trẻ và đo chiều cao vào một ngày nhất định, trước lúc ăn hoặc sau ăn để có số liệu chính xác (chú ý chỉ mặc quần áo mỏng hoặc trừ quần áo). Với trẻ dưới 24 tháng tuổi đo chiều dài nằm và từ 24 tháng tuổi trở lên đo chiều cao đứng. Cân nặng của trẻ sơ sinh đủ tháng, khoẻ mạnh, lúc mới sinh trung bình khoảng 3.000gam (3kg).

Nếu cân nặng dưới 2.500 gam (2,5kg) thường là trẻ bị thiếu tháng hoặc bị suy dinh dưỡng bào thai (đẻ đủ tháng nhưng cân nặng dưới 2.500 gam). Do vậy, điều quan trọng nhất bà mẹ phải tự nhận thấy con mình đang phát triển bình thường, hay phát triển lệch một trong 2 chỉ số về cân nặng hay chiều cao, từ đó đưa ra chế độ ăn phù hợp với nhu cầu phát triển để dự phòng sớm thừa cân - béo phì.

Thừa cân béo phì ở trẻ ngày càng gia tăng.

Thừa cân béo phì ở trẻ ngày càng gia tăng.

Sự phát triển bình thường về cân nặng của trẻ

Một trẻ khỏe mạnh, phát triển bình thường khi ăn đủ nhu cầu sẽ tăng cân hàng tháng. Ví dụ: Cân nặng của trẻ sơ sinh đủ tháng, khỏe mạnh trung bình khoảng 3.000 gam (3kg); 3 tháng đầu trẻ phát triển rất nhanh tăng cân từ 1.000-1.200g/tháng; 3 tháng tiếp theo tăng cân từ 500-600g/tháng; 6 tháng tiếp theo chỉ tăng cân từ 300-400g/tháng, khi 1 tuổi trẻ nặng gấp 3 lần lúc mới sinh (khoảng 9-10kg). Trẻ từ 2-10 tuổi cân nặng tăng trung bình 2,4 kg/năm và có thể tính cân nặng của trẻ theo công thức sau:

Xn = 9,5 kg + 2,4 kg x ( N-1)

(Trong đó: Xn là cân nặng hiện tại của trẻ (kg); 9,5 là cân nặng của trẻ lúc 1 tuổi; 2,4 là cân nặng tăng trung bình trong 1 năm; N là số tuổi của trẻtính theo năm).

Như vậy, với trẻ 1 tuổi thì cân nặng là:

9,5 kg + 2,4 kg x ( N-1) = 9,5 + 2,4 kg x (1-1) = 9,5kg

Với trẻ 2 tuổi thì cân nặng là:

9,5kg + 2,4kg x (2-1) = 9,5kg + 2,4kg = 11,9kg

Sự phát triển bình thường về chiều cao của trẻ

Chiều dài trung bình của trẻ sơ sinh khoảng 50cm, 3 tháng đầu trẻ tăng từ 3-4,5cm/tháng, 3 tháng tiếp theo tăng từ 2-2,5cm/tháng, 3 tháng tiếp tăng 2cm/tháng, những tháng tiếp theo tăng từ 1-1,5cm. Khi trẻ 1 tuổi có chiều dài gấp 1,5 lần lúc mới sinh (75cm), trẻ 2 tuổi chiều cao là 86-87cm (bằng 1/2 chiều cao người trưởng thành), trẻ 3 tuổi có chiều cao là 95-96cm, trẻ từ 4 - 10 tuổi chiều cao tăng trung bình 6,2cm/năm.

Chiều cao trung bình của trẻ từ 2 tuổi có thể áp dụng công thức sau:

Xc = 95,5 cm + 6,2 cm x (N-3)

(Trong đó: Xc là chiều cao nên có của trẻ (cm); 95,5 là chiều cao của trẻ lúc 3 tuổi; 6,2 là chiều cao tăng trung bình trong 1 năm; N là số tuổi của trẻtính theo năm)

Ví dụ: Chiều cao trung bình của trẻ từ 4 tuổicó thể áp dụng công thức sau:

Xc = 95,5 cm + 6,2 cm x (N-3)

Xc là chiều cao nên có của trẻ (cm)

95,5 là chiều cao của trẻ lúc 3 tuổi

6,2 là chiều cao tăng trung bình trong 1 năm

N là số tuổi của trẻ (tính theo năm)

Ví dụ với trẻ 4 tuổi thì chiều cao là:

95,5 cm + 6,2 cm x (4-3) = 95,5 cm + 6,2 cm x 1 = 101,7 cm

Cách phát hiện sớm trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng ở cộng đồng?

Biện pháp đơn giản để nhận biết được trẻ phát triển bình thường hay có nguy cơ bị suy dinh dưỡng bằng cách theo dõi diễn biến cân nặng và chiều cao bằng biểu đồ phát triển. Sau mỗi lần cân trẻ, số cân nặng của trẻ chấm lên biểu đồ tăng trưởng ta có một điểm tương ứng với tháng tuổi của trẻ, nối điểm cân nặng vừa chấm với điểm cân nặng tháng trước, cứ liên tục như vậy sẽ có được được “Con đường sức khỏe” của trẻ.

- Hàng tháng trẻ tăng cân đều đặn đó là dấu hiệu quan trọng của một đứa trẻ khoẻ mạnh, phát triển bình thường.

- Không tăng cân là dấu hiệu báo động về sức khoẻ và nuôi dưỡng chưa tốt (nguy cơ bị suy dinh dưỡng).

Làm thế nào để phát hiện trẻ béo phì?

Đối với trẻ dưới 5 tuổi:

- Trẻ được coi là đã bị thừa cân khi chỉ số cân nặng theo chiều cao hiện đã vượt quá 2 độ lệch chuẩn (SD) nhưng chưa vượt qúa 3 SD.

- Trẻ bị béo phì khi có chỉ số cân nặng so với chiều cao vượt quá 3 SD.

Đối với trẻ trên 5 tuổi (6-19 tuổi):

- Trẻ coi bị thừa cân khi có BMI theo tuổi vượt quá 2 SD nhưng chưa vượt vượt quá 3 SD (2SD < BMI theo tuổi ≤3 SD);

- Trẻ được coi là béo phì khi BMI theo tuổi vượt quá 3 SD (3 SD < BMI theo tuổi).

Cần chú ý: khi trẻ có BMI theo tuổi đã vượt quá 1 SD và chưa vượt quá 2 SD (1SD <BMI theo tuổi ≤2 SD) là đã có nguy cơ bị thừa cân, nếu trẻ có BMI theo tuổi càng gần về phía 2SD thì nguy cơ càng lớn. Nếu không có biện pháp kịp thời là điều chỉnh chế độ ăn và hoạt động thể lực, trẻ sẽ sớm bị thừa cân và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Để xác định trẻ béo phì, bà mẹ cần phải biết chính xác cân nặng, chiều cao của trẻ, sau đó dựa vào bảng Z-score cân nặng/chiều cao theo tuổi và BMI theo tuổi của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 để đánh giá theo ngưỡng phân loại trên.

Bạn có thể tham khảo bảng phân loại tình trạng của trẻ gái dựa vào BMI vủa WHO-2007, bạn muốn biết chi tiết hay vào trang web của Viện Dinh dưỡng Quốc gia:

http://viendinhduong.vn/FileUpload/Documents/01_bmifa_boys_5_19years.pdf

PH N LOẠI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG

CỦA TRẺ GÁI 5-19 TUỔI DỰA VÀO BMI (WHO-2007)

Năm:

Tháng

Tháng

-3 SD

-2 SD

-1 SD

TB

-1 SD

2 SD

3 SD

5:01

61

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,3

5:02

62

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,4

5:03

63

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,5

5:04

64

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,5

5:05

65

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,6

5:06

66

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,7

5:07

67

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,7

5:08

68

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

21,8

5:09

69

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

21,9

5:10

70

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

22,0

ThS.BS. Nguyễn Văn Tiến (Trung tâm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Tiểu không tự chủ

Tiểu bình thường là như thế nào?

Một cơ thể khỏe mạnh bình thường thường có số lần đi tiểu mỗi ngày khoảng 7- 8 lần, ban ngày 7 lần ban đêm 1 lần là hợp lý; mỗi lần khoảng 300ml, tổng không quá 3.000ml/ ngày. Ban đêm có thể đi tiểu 1 lần. Nếu tiểu nhiều lần hơn về đêm có thể là vì trước khi ngủ uống quá nhiều nước. Sau khi uống nước chừng 30 - 45 phút thường đi tiểu một lần. Về cơ bản, quá trình trao đổi chất nước trong cơ thể cần 30 - 45 phút, nhưng khoảng thời gian này có thể linh động phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một là ăn mặn hoặc nhạt, khi ăn quá mặn, thời gian bài tiết nước tiểu sẽ mất nhiều thời gian hơn, vì muối sẽ làm cho khả năng giữ nước trong cơ thể lâu hơn. Lượng nước tiểu thải ra một ngày khoảng 1.500ml. Mỗi ngày lượng nước tiểu bài tiết là khoảng 1.500 - 3.000ml là bình thường.

Tiểu không tự chủ

Tiểu không tự chủ là gì?

Tiểu không không tự chủ hay tiểu không kiểm soát hiện tượng tiểu són, tiểu ít, tiểu gấp, tiểu không điều khiển được (không theo ý mình) hoặc tiểu nhiều lần gây khó chịu. Tiểu không tự chủ là một dấu hiệu hay triệu chứng của rối loạn chức năng đường tiểu chứ không phải là một bệnh.

Sau khi uống nước chừng 30 – 45 phút thường đi tiểu một lần

Nguyên nhân

Chứng tiểu không tự chủ có nhiều nguyên nhân tại bàng quang, tại cơ thắt (bàng quang, niệu đạo) gọi là hoạt động quá mức của cơ bức niệu gặp ở NCT. Hoạt động quá mức của cơ bức niệu làm cho sự co bóp của bàng quang không thể ức chế được, dẫn đến tiểu tiện không tự chủ, nước tiểu thoát ra ngoài. Đây là nguyên nhân hay gặp nhất về tiểu tiện không tự chủ ở NCT(chiếm khoảng 2 phần 3 trường hợp). Hoạt động quá mức của cơ bức niệu có thể do có sỏi bàng quang hoặc khối u, nên có thể có rối loạn ở tầng sinh môn, trên xương mu, đái ra máu kèm theo tiểu tiện không tự chủ. Bên cạnh đó có một số nguyên nhân hay gặp nhất là do trạng thái tâm thần, thần kinh không ổn định (hay gặp nhất là stress, đặc biệt là nữ giới hoặc do mê sảng, bồn chồn, lo lắng một vấm đề gì đó), rối loạn giấc ngủ hoặc do bất thường điều gì đó (viêm nhiễm, do dùng một loại thuốc nào đó, ví dụ thuốc lợi tiểu…) ở đường tiểu (thận, bàng quang, niệu đạo) hoặc do hạn chế vận động (lười, bị liệt, tuổi cao sức yếu…) hoặc do ảnh hưởng của ghế ngồi… Tiểu không tự chủ có thể do rối loạn cố định ở bàng quang như: tăng hoặc giảm hoạt động của cơ bàng quang, cơ cổ bàng quang hoặc do giãn bàng quang hoặc dị dạng bàng quang bẩm sinh hoặc bệnh ở đường tiết niệu (viêm, sỏi, u…). Ở nữ giới có tuổi, tiểu không tự chủ có thể có sự kết hợp giữa viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo. Ở những vị trí đó, niêm mạc bị mòn, co giãn mao mạch, viêm. Mặt khác ở phụ nữ cao tuổi khi bị viêm niệu đạo thường lan đến tam giác bàng quang gây tiểu tiện không tự chủ. Ngoài ra, tiểu không tự chủ có thể do mắc một số bệnh về tiền liệt tuyến ở nam giới (viêm, tăng sinh lành tính, u hoặc ung thư…), bệnh đái tháo đường (đái nhiều, khát nhiều nên uống nhiều, càng uống nhiều nước càng đái nhiều), bệnh suy tim… hoặc do bệnh béo phì. Béo phì là do sự gia tăng cân nặng làm tăng sức chèn ép tới bàng quang từ đó làm tăng nguy cơ tiểu không kiểm soát, đó cũng là phân tích đưa ra từ nhiều chuyên gia lý giải cho hiện tượng tiểu không kiểm soát ở người bệnh béo phì.

Biểu hiện

Ở phương Tây, tỉ lệ mắc chứng tiểu không tự chủ, khoảng 35% ở phụ nữ lớn tuổi vào và 22% nam giới lớn tuổi và tỉ lệ bệnh tăng cao ở các nhà dưỡng lão có thể lên đến 60%. Ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức về chứng bệnh này. Chứng tiểu không tự chủ thay đổi theo mức độ nghiêm trọng từ hiện tượng chảy một ít nước tiểu khi có gia tăng áp lực ổ bụng khi gắng sức (ho, rặn…) tới mức độ són tiểu liên tục, đến nặng hơn là tiểu không kiểm soát (không tự chủ) và có thể có kèm theo đại tiện không tự chủ. Thông thường tiểu không tự chủ hay gặp là tiểu són, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, mỗi lần nước tiểu ít, ra không hết, sau khi đi tiểu nước tiểu còn són ra, thậm chí đái dầm, cần mặc quần có loại vải không thấm và luôn thay quần.

Tiểu không tự chủ

Biến chứng

NCT tiểu tiện không tự chủ gây nhiều phiền toái cho ngay cả người bệnh và cả người chăm sóc. Bên cạnh đó, tiểu tiện không tự chủ có thể gây nên nhiễm trùng đường tiết niệu do nước tiểu ứ đọng trong bàng quang. Trước tiên là gây nhiễm trùng bàng quang, dần dần gây viêm ngược dòng lên thận làm viêm dài bể thận, ứ mủ nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể bị suy thận.

Nguyên tắc điều trị tiểu tiện không tự chủ

Trước hết, nên được khám bệnh một cách toàn diện để xác định nguyên nhân, trên cơ sở đó cần điều trị nguyên nhân triệt để dưới sự chỉ định của bác sĩ khám chưã bệnh. Với NCT, cần lưu ý đến trạng thái tâm thần, nhất là strees, rối loạn giấc ngủ. Khi NCT tiểu không tự chủ quá nặng (đái dầm) cần được mặc các loại quần bằng vải không thấm nước và luôn được thay, rửa sạch, lau khô da vùng bẹn, mông. Bởi vì, da ở vùng này rất dễ bị loét do vậy khi đái dầm có thể bị nhiễm trùng. Ngoài sự giúp đỡ người bệnh, không nên la mắng họ, bởi vì NCTrất dễ tủi thân và nên giải thích cho họ biết, đó là bệnh không phải do họ gây ra để họ không xấu hổ.

Lời khuyên của thầy thuốcĐể hạn chế mắc chứng tiểu không tự chủ, NCT nên có cuộc sống bình an, không lo lắng suy nghĩ về những việc đã qua trong cuộc sống, không quá lo lắng về một số bệnh tật của mình. Để làm tốt các việc đó, NCT nên vận động cơ thể hàng ngày theo các bài tập phù hợp với NCT hoặc đi bộ ngày 60 phút chia làm 2 lần. Hàng ngày nên tăng cường hoạt động về mặt tinh thần như xem vô tuyến, đọc sách báo hoặc viết sách, báo (nếu có điều kiện), tham gia câu lạc bộ NCT. Bên cạnh đó, nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý với NCT, không nên uống rượu, bia, không hút thuốc. Buổi tối hạn chế uống nước, không uống cà phê, trà đặc bởi sẽ gây rối loạn giấc ngủ.

BS. NGUYỄN VĂN BÌNH

Viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Khi dây thanh âm bị kích thích dẫn đến sưng phồng, giọng nói của trẻ trở nên khàn khàn và khó nghe hơn thường lệ, đó là bệnh viêm thanh quản. Nguyên nhân do trẻ la hét quá nhiều làm cho dây thanh âm bị kích thích. Đôi khi, trẻ hát quá lớn cũng dễ mắc bệnh. Triệu chứng thông thường là giọng nói trở nên khàn đặc hoặc khô khốc, có khi bị tắt tiếng hoặc cố gắng nói nhưng không nói được mà chỉ phát ra những âm thanh the thé, khó nghe.

Cũng có trường hợp bệnh do bao tử gây nên, nguyên nhân vì thỉnh thoảng lượng acid có trong bao tử có tác dụng làm tiêu hóa thức ăn bị trào ngược lên ống dẫn thức ăn, làm cho dây thanh âm bị kích thích. Sự dị ứng hoặc khói thuốc lá cũng gây kích thích dây thanh âm. Nói chung, nhiễm trùng từ vi khuẩn chính là nguyên nhân chính gây viêm phế quản ở trẻ, lẫn người lớn. Đôi khi, dây thanh âm bị nhiễm trùng cùng loại vi khuẩn thường gây bệnh sổ mũi và cảm cúm ở trẻ. Đó cũng là lý do khi trẻ bị cúm hoặc ho nhiều giọng nói cũng trở nên khó nghe hơn. Để bảo vệ thanh quản:

- Không cho trẻ la hét quá lớn trong khi vui chơi để tránh làm trẻ khàn giọng.

- Không cho trẻ tiếp xúc nhiều với hệ thống máy giữ độ ẩm không khí, vì dễ làm cho cuống họng bị khô.

- Tránh để trẻ tiếp xúc với môi trường có khói, bụi, thuốc lá…

- Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.

- Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi và không khạc nhổ bừa bãi.

- Nếu viêm phế quản do virút gây nên, cần cho trẻ đến khám bác sĩ để được nhỏ thuốc. Trường hợp này, trẻ cần hạn chế nói chuyện để tránh làm đau rát cuống họng, thay vào đó hãy hướng dẫn cho trẻ cách ra dấu để diễn đạt khi muốn nói chuyện hoặc viết, vẽ ra giấy. Nếu do bao tử, bác sĩ sẽ kê thuốc, khuyến khích thay đổi cách ăn uống để loại trừ một thức ăn có thể làm bệnh trở nên trầm trọng hơn.

(Theo Kids Laryngitis Disease)

ĐỖ QUYÊN