Dụng cụ làm bếp có thể lây truyền vi khuẩn

Các nhà nghiên cứu từ trường Khoa học nông nghiệp và môi trường, ĐH Georgia phát hiện ra dụng cụ làm bếp có thể lây lan vi khuẩn tới các sản phẩm khác nhau. Theo đó, các nhà nghiên cứu khuyến nghị người dân rửa sạch dụng cụ làm bếp như dao, dụng cụ gọt vỏ, nạo trước khi sử dụng chúng để cắt trái cây hoặc rau.

Tác giả cho biết việc dụng cụ làm bếp có thể dẫn tới lây nhiễm chéo là quan trọng. Nhờ nhận thức được điều này, người dân sẽ ý thức hơn để rửa sạch chúng giữa các lần sử dụng. Không chỉ những dụng cụ này lây truyền vi khuẩn mà các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra những sản phẩm khác cũng lây truyền ở những mức độ khác nhau.

Ví dụ nếu cắt 1 quả cà chua hỏng thì vi khuẩn để lại trên dao nhiều hơn so với khi bạn cắt dâu tây. Các tác giả không biết rõ tại sao có sự khác biệt giữa các nhóm thực phẩm khác nhau, nhưng đều biết rằng khi một tác nhân gây bệnh có trong thực phẩm thì rất khó có thể loại bỏ.

Năm 2014, các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã kiểm tra các loại thớt thường dùng trong bếp và thấy rằng chúng cũng có thể lây truyền vi khuẩn. Khoảng 3,5% số thớt được kiểm tra ngẫu nhiên ở nhà mang vi khuẩn E.coli và 6,5% số thớt được kiểm tra ở bệnh viện nhiễm loại vi khuẩn kháng thuốc này.

Theo Bệnh viện Mayo, không giống như nhiều vi khuẩn gây bệnh khác, E.coli có thể gây nhiễm trùng ngay cả khi bạn chỉ tiếp xúc với một lượng nhỏ. Thịt bò, sữa chưa tiệt trùng và sản phẩm tươi sống đều là những “phương tiện chuyên chở” và con đường lây lan vi khuẩn cho người, dẫn tới tiêu chảy, đau bụng dữ dội, nôn và sốt. Một số loại rau như rau bina, rau diếp dễ chứa vi khuẩn, tuy nhiên nhóm nghiên cứu của Erikson phát hiện thấy cà chua đặc biệt gây lây nhiễm chéo qua đồ cắt gọt này.

Dụng cụ làm bếp có thể lây truyền vi khuẩn

Samollea là một loại vi khuẩn khác có thể bị lây truyền qua dụng cụ cắt gọt trong bếp. Theo Trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh Mỹ, mỗi năm có hơn 1 triệu người Mỹ bị nhiễm vi khuẩn Salmonella, 380 người trong số đó tử vong. Vi khuẩn đa kháng thuốc gây bệnh hen, sốt, và đau bụng trong vòng 12-72 giờ, kéo dài trung bình tới 1 tuần.

Bộ Y tế và Dịch vụ nhân sinh Mỹ đã cảnh báo vi khuẩn gây bệnh có thể sống ở nhiều nơi trong bếp, bao gồm cả tay bạn. Rửa tay ít nhất 20 giây với nước ấm hoặc nước lạnh và xà phòng có thể ngăn chặn sự lây lan vi khuẩn, chà lưng bàn tay với gừng và dưới móng 2 lần, tráng và lau khô bằng khăn sạch.

Khi chuẩn bị thực phẩm, ngay cả trước khi gọt hoa quả điều quan trọng là phải làm sạch chúng để tránh vi khuẩn có thể lây lan từ ngoài vào trong. Cũng cần rửa các loại trái cây như dưa hấu hoặc dưa chuột với bàn chải sạch. Cắt bỏ những khu vực bị dập, thâm, lau khô quả bằng khăn giấy hoặc vải sạch.

Tuy nhiên, những kết quả mới nhất này khuyến nghị người dân rửa sạch các dụng cụ làm bếp và sản phẩm là một biện pháp dự phòng cần thiết.

BS Tuyết Mai

Theo Medicaldaily

Cách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnCách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnChọn rau ngót an toàn để phòng ngộ độcChọn rau ngót an toàn để phòng ngộ độcMen tiêu hóa: Dùng bừa = hại trẻMen tiêu hóa: Dùng bừa = hại trẻ

(Univadis)

Lão thị ngày càng trẻ hóa

Tuy nhiên, ngày nay do cuộc sống hiện đại sử dụng nhiều thiết bị điện tử: máy vi tính, smart phone, tivi,... có thể bị lão hóa mắt nên tình trạng này đang ngày càng trẻ hóa.

Vì sao bị lão thị?

Lão thị không phải là một bệnh lý. Đó là một quá trình lão hóa của mắt. Khác với loạn thị, cận thị và viễn thị là những vấn đề khúc xạ liên quan đến hình dạng nhãn cầu do các yếu tố di truyền và môi trường, lão thị là một biểu hiện của quá trình lão hóa. Nhiều nhà khoa học cho rằng lão thị bắt nguồn từ sự hình thành các protein trong thủy tinh thể, gây xơ hóa, làm cho thủy tinh thể cứng lên và mất dần khả năng đàn hồi theo thời gian. Khi đó thủy tinh thể không còn khả năng phồng lên xẹp xuống, thay đổi công suất hội tụ, phục vụ cho việc điều tiết như khi còn trẻ. Thêm vào đó, cơ mi cũng đóng vai trò quan trọng. Ở người lớn tuổi, trương lực của những sợi cơ này suy giảm, không đủ mạnh để co kéo các dây chằng quanh xích đạo thủy tinh thể, khiến thủy tinh thể bị cứng và chỉ còn một điểm hội tụ thay vì một dải hội tụ.

Ở những người tuổi trung niên (thường từ 40 tuổi) khi nhìn gần hoặc đọc sách sẽ thấy mờ và để nhìn rõ người đó phải đưa sách ra xa mắt. Đó là tình trạng lão thị. Ngoài ra, những người có bệnh mạn tính: bệnh hệ thống như tăng huyết áp và tiểu đường; gia đình có người bị glôcôm hay thoái hóa hoàng điểm; môi trường làm việc độc hại với mắt hoặc làm việc cật lực bằng mắt; toàn thân có các vấn đề về rối loạn chuyển hóa, mỡ máu, tuyến giáp, viêm khớp, trầm cảm,.. dễ bị lão thị nhanh hơn. Trái lại, lão thị xuất hiện chậm ở người cận thị.

Sau khi được chẩn đoán lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác.

Sau khi được chẩn đoán lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác.

Dấu hiệu nhận biết

Người bị lão thị sẽ cảm thấy mắt mờ khi nhìn gần, ví dụ như khi đọc sách, khâu vá...Khi đọc sách, người bị lão thị không nhìn rõ những chữ nhỏ hoặc đọc sách một thời gian sẽ thấy chữ bị nhòe, nhìn không rõ. Sau khi ngưng đọc một thời gian, tiếp tục đọc lại thì chữ có thể rõ lại như ban đầu. Muốn đọc sách rõ cần phải tăng thêm ánh sáng hoặc đưa sách ra xa mắt. Khi đọc sách hoặc khâu vá lâu, người lão thị sẽ cảm thấy mỏi mắt và phải đặt sách ở một khoảng cách thích hợp.

Nếu để ra xa (ngoài 33cm) thì có thể đọc được, tuy nhiên cảm thấy chóng mỏi mắt, có khi nhức đầu sau lúc làm việc hoặc vào buổi chiều.

Điều trị thế nào?

Việc điều trị lão thị tương đối đơn giản: Chỉ cần dùng kính điều chỉnh người bị lão thị sẽ cảm thấy nhìn rõ trở lại. Kính điều chỉnh có thể vừa điều chỉnh lão thị và vừa điều chỉnh cận thị, viễn thị, loạn thị. Sau khi được chẩn đoán lão thị, người bị lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác. Thật ra thì có một số ít người bị lão thị không dùng kính, cố gắng để sách xa mắt vẫn đọc được, có khi phải nheo mắt để nhìn rõ. Tuy vậy sau khi đọc sách hoặc sau khi làm việc sẽ thấy mệt mỏi, nhức đầu do mắt phải điều tiết quá mức.

Người lão thị cần phải khám chuyên khoa mắt để chọn kính đeo thích hợp.

Tiêu chuẩn một kính tốt là đọc được rõ ràng, dùng lâu vẫn cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Chất lượng của kính còn phụ thuộc kỹ thuật làm kính, độ nặng của gọng, độ chênh của mắt kính và khoảng cách giữa kính và mắt. Thông thường người lão thị nên kiểm tra mắt mỗi năm một lần để điều chỉnh độ kính cho phù hợp.

Lời khuyên của thầy thuốcDo lão thị là hiện tượng sinh lý, thủy tinh thể bị suy giảm chức năng theo tuổi nên hầu như không có biện pháp phòng ngừa. Tuy nhiên, có thể chăm sóc mắt một cách hợp lý nhằm kéo dài độ tuổi khỏe mạnh của mắt. Các biện pháp dễ dàng áp dụng như: Kiểm tra mắt định kỳ, đặc biệt đối với các bệnh nhân mang bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận. Đeo kính mát để bảo vệ mắt khỏi ánh sáng mặt trời. Đeo kính bảo vệ mắt không bị chấn thương. Có chế độ ăn giàu dinh dưỡng, đa dạng nguồn thực phẩm. Tránh những thói quen gây hại đến mắt như: đọc sách trong cường độ ánh sáng yếu, sử dụng màn hình máy tính, ipad... quá lâu, thức khuya làm việc thường xuyên...

BS. Hải Yến

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

trong đó hệ xương khớp là một trong những bộ phận chịu tác hại nghiêm trọng của tình trạng này.

Tình trạng thừa cân và béo phì đã và đang trở thành một nguy cơ của sức khỏe. Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tình trạng này đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây, nhất là ở trẻ em, bên cạnh một số lượng không nhỏ các bệnh nhân bị suy dinh dưỡng.

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

Chẩn đoán thừa cân và béo phì

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dùng chỉ số nhân trắc học dựa vào chiều cao và cân nặng, đó là chỉ số cơ thể (BMI) tính bằng cân nặng cơ thể (kg) chia cho chiều cao bình phương (m), và phân ra các mức độ như sau: BMI dưới 18,5 kg/m2: gọi là thiếu cân, gầy; BMI từ 18,5 - 24kg/m2: bình thường; BMI từ 25 - 30: kg/m2: thừa cân và BMI trên 30kg/m2: béo phì. Các chỉ số này thấp hơn một chút khi áp dụng cho người châu Á. Gần đây với các kỹ thuật đo thành phần cơ thể hiện đại như đo bằng máy hấp thụ năng lượng kép sử dụng tia X (DEXA) cho phép xác định chính xác khối mỡ, khối nạc, khối xương toàn thân, giúp ích nhiều cho chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh. Tuy nhiên, do giá thành còn cao nên chưa được phổ biến rộng rãi.

Đối với trẻ em, thiếu niên (từ 2 - 20 tuổi) có thể tính chỉ số BMI và đối chiếu với bảng dưới đây:

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ emẢnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ emBệnh Blount

Thừa cân và béo phì gây hậu quả chung lên cơ thể

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:

Hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.

Hệ hô hấp: giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm.

Hệ nội tiết, chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tăng acid uric gây bệnh gút.

Tác động về tâm sinh lý: tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng.

Một số bệnh ung thư như: ung thư thực quản, trực tràng, vú...

Những ảnh hưởng

Ảnh hưởng của béo phì bộc lộ ngay từ khi còn trẻ như đi lại chậm chạp hơn, thường bị bạn bè cùng lứa chế giễu, làm cho trẻ béo phì ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình.

Khung xương bị tổn thương: sự dư thừa thể trọng khiến bộ xương của đứa trẻ béo phì bị quá tải dẫn đến biến dạng các chi dưới và cần có sự chỉnh hình: 80% số trẻ em bị vẹo đầu gối hay vẹo xương chày là những trẻ béo phì; đối với trẻ bị hoại tử dần đầu xương đùi, chủ yếu ở các bé trai, tỉ lệ đó là từ 50 - 70%. Nghiêm trọng là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), dễ bị bong gân mắt cá chân. Bệnh Blount là một rối loạn phát triển của xương ống chân (xương chày), trong đó chân thấp hơn quay vào trong, giống như một vòng cung. Bệnh Blount được cho là do ảnh hưởng của trọng lượng. Phần bên trong của xương ống chân, ngay dưới đầu gối, không phát triển bình thường, liên quan với béo phì và đi bộ sớm. Triệu chứng một hoặc cả hai cẳng chân quay vào trong. X-quang đầu gối và cẳng chân giúp khẳng định chẩn đoán. Điều trị bằng nẹp được sử dụng cho trẻ em phát triển biến dạng nghiêm trọng trước khi 3 tuổi. Nếu nẹp không hiệu quả, hoặc nếu vấn đề không được chẩn đoán cho đến khi trẻ lớn hơn, phẫu thuật thường là cần thiết. Phẫu thuật có thể liên quan đến việc cắt xương ống chân để đặt nó vào vị trí thích hợp. Lần khác, phẫu thuật được thực hiện để hạn chế sự tăng trưởng của nửa ngoài của xương ống chân. Điều này cho phép tăng trưởng tự nhiên của đứa trẻ để đảo ngược quá trình cong. Thất bại trong việc điều trị bệnh Blount của có thể dẫn đến biến dạng ngày càng tăng. Điều kiện có thể dẫn đến sự khác biệt về độ dài chân, có thể dẫn đến tàn tật nếu không được điều trị. Bệnh Blount của có thể trở lại sau khi phẫu thuật, đặc biệt là ở trẻ em.

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis) gây tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong (coxa vara). Trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi xảy ra do đầu trên xương đùi bị trật khỏi vị trí bình thường ở hốc hông. Rối loạn này thường xảy ra ở trẻ em từ 11 - 16 tuổi, phổ biến hơn ở trẻ em trai và người thừa cân. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, bệnh có thể phục hồi hoàn toàn, nếu không được điều trị, đầu xương đùi có thể bị hoại tử do bị gián đoạn nguồn cung cấp (hoại tử vô mạch). Triệu chứng: đau đầu gối, đau hông, chân hướng ra ngoài khi di chuyển, cứng hông, hạn chế chuyển động hông, đi lại khó khăn, đi bộ với một chân. Chẩn đoán: hỏi bệnh sử và khám thực thể; chụp X-quang. Điều trị: giảm cân, tập vật lý trị liệu hoặc phẫu thuật là cần thiết để khắc phục các khiếm khuyết.

Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.

Nếu có bệnh đái tháo đường đi kèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ xương khớp càng rầm rộ hơn do thoái hóa khớp và do tổn thương thần kinh ngoại biên.

Điều trị béo phì ở trẻ em

Nguyên tắc chung là giảm năng lượng ăn vào và tăng năng lượng tiêu hao. Tuy nhiên, trẻ em là một cơ thể đang phát triển nên việc điều trị phải hết sức chuyên nghiệp để không thiếu chất dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ.

Mục tiêu điều trị béo phì của trẻ không phải chỉ là giảm cân. Trái lại nếu giảm cân không đúng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Tùy theo tình trạng sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có những mục tiêu điều trị khác nhau. Thứ tự ưu tiên như sau:

Mục tiêu quan trọng nhất là thay đổi hành vi về ăn uống và tăng cường lối sống năng động.

Mục tiêu tiếp là điều trị những biến chứng (nếu có).

Mục tiêu sau cùng mới là giảm cân. Tốc độ giảm cân thích hợp là khoảng 500g mỗi tháng. Tùy từng trường hợp sẽ có những mức độ và mục tiêu giảm số lượng cân nặng khác nhau.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Kem đánh răng làm trắng có thực sự hiệu quả?

Lâm Thu Hương (Hải Phòng)

Kem đánh răng quảng cáo làm trắng có thể làm trắng răng một cách nhẹ nhàng bằng cách loại bỏ vết bẩn tạm thời trên bề mặt, chẳng hạn như ố răng do uống cà phê hoặc hút thuốc lá. Tuy nhiên, kem đánh răng làm trắng không thể thay đổi màu sắc tự nhiên của răng hoặc làm trắng vết bẩn sâu hơn bề mặt răng.

Không giống các sản phẩm làm trắng răng khác, kem đánh răng làm trắng không chứa peroxit. Để loại bỏ vết bẩn trên bề mặt, kem đánh răng làm trắng thường bao gồm: chất mài mòn đặc biệt nhẹ nhàng đánh bóng răng, hóa chất giúp phá vỡ vết bẩn. Một số loại kem đánh răng làm trắng có chứa chất covarine màu xanh hóa học, nó dính vào bề mặt của răng và tạo ra một ảo ảnh quang học có thể làm giảm màu vàng trên răng.

Khi sử dụng 2 lần/ngày, kem đánh răng làm trắng có thể mất từ 2-6 tuần để làm cho răng trở nên trắng hơn. Bột làm trắng có chứa covarine màu xanh có thể có tác dụng ngay lập tức. Mặc dù kem đánh răng làm trắng thường được thiết kế để tối đa hóa việc làm sạch và giảm tối đa mòn trên men răng, hãy cẩn thận để làm theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Nếu bạn không hài lòng với hiệu quả của việc làm trắng từ kem đánh răng, hãy đi khám và xin tư vấn của bác sĩ nha khoa về vệ sinh răng miệng về các lựa chọn làm trắng răng khác - chẳng hạn như các sản phẩm chuyên tẩy trắng như máng răng, dải băng tẩy trắng...

BS. Thục Trinh

Lắng nghe và mệt mỏi ở trẻ khiếm thính

Mệt mỏi là gì?

Mệt mỏi ở cả hai lĩnh vực: thể chất và nhận thức. Nó thường được mô tả như mệt mỏi, kiệt sức và / hoặc thiếu năng lượng. Đối với trẻ khiếm thính, triệu chứng chính là mệt mỏi nhận thức từ việc lắng nghe giáo viên và các bạn trong tiếng ồn cạnh tranh. Nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa nghe trong tiếng ồn cạnh tranh và stress. Trong khi một số stress tốt vì nó dạy kỹ năng đối phó, nhưng quá nhiều căng thẳng có thể dẫn đến gián đoạn hiệu suất cũng như những thay đổi sinh lý trong huyết áp và nồng độ hoóc-môn.

Trẻ em bị mất thính giác phải tiêu hao nhiều năng lượng hơn để lắng nghe và học

Cố gắng nghe

Việc sử dụng năng lượng tinh thần để chú ý và hiểu ngôn ngữ nói được mô tả là cố gắng nghe. Mức cố gắng lắng nghe phụ thuộc vào việc đứa trẻ nghe được bao nhiêu. Nhiều việc ảnh hưởng đến việc cố gắng nghe - mức độ mất thính lực, công nghệ được lập trình như thế nào, tiếng ồn trong phòng học, tình trạng mệt mỏi của đứa trẻ khi bắt đầu một ngày, mức độ khó và mới của các bài học. Trẻ em bị mất thính giác biểu hiện cần phải tiêu hao nhiều năng lượng hơn để lắng nghe và học. Lớp học càng ồn hơn, càng cần nhiều năng lượng hơn. Tăng cố gắng nghe làm giảm các khả năng xử lý, các khả năng này nếu không có thể được sử dụng cho việc nhớ lại hoặc các hoạt động khác. Ngay cả khi tín hiệu đã được làm rõ, trẻ em bị mất thính lực vẫn cần đầu tư nhiều nguồn lực nhận thức hơn để phát hiện, xử lý và hiểu được lời nói hơn các bạn trong lớp với thính giác bình thường. Cuối cùng, việc giữ không bị đi xuống trở nên khó khăn.

Nhận biết và xử lý mệt mỏi

Nhiều người có trách nhiệm trong việc xác định sự mệt mỏi. Một khi đã xác định, một số người khác nhau phải tham gia vào việc xử lý. Đầu tiên, giáo viên cần phải hiểu được ảnh hưởng của mất thính lực đối với việc học tập và cần phải nhận ra khi đứa trẻ có thể có biểu hiện mệt mỏi nghe. Gia đình và trẻ cần được giáo dục về những ảnh hưởng của việc mệt mỏi do nghe để họ có thể được cảnh báo và yêu cầu nghỉ ngơi khi cần thiết. Ngày học phải có lịch cho các thời gian nghỉ nghe, khi hoạt động nghe không phải là quá quan trọng. Ăn trưa không tính là thời gian nghỉ nghe. Mặc dù ăn trưa có thể không phải là thời gian các thông tin học tập được trình bày, nhưng nó chắc chắn là một thời gian quan trọng để giao tiếp giữa trẻ bị mất thính lực và các trẻ nghe bình thường khác.

Công nghệ

Trẻ em nghe càng tốt thì càng ít bị mệt mỏi hơn. Nhận biết tiếng nói càng tốt hơn, đứa trẻ sẽ nghe được nhiều hơn. Trẻ nghe càng nhiều hơn, trẻ càng hiểu nhiều hơn.

Nâng cao xử lý tín hiệu trong công nghệ nghe nên được sử dụng cho phù hợp. Những trẻ biết khi giao tiếp cần nhìn thẳng mặt người nói chuyện với mình cần kích hoạt microphone định hướng. Giảm tiếng ồn kỹ thuật số nên được kích hoạt để loại bỏ các tác động tiêu cực của tiếng ồn xung quanh.

Mỗi đứa trẻ bị mất thính lực sẽ được hưởng lợi từ các hệ thống micro điều khiển từ xa. Trẻ em, gia đình và giáo viên cần phải hiểu tại sao những hệ thống này quan trọng và sử dụng chúng như thế nào.

Các học sinh ngồi khoảng 1/3 xa về phía sau trong lớp học và qua một bên là chỗ ngồi chiến lược

Các chiến lược cho lớp học

Các chiến lược cho lớp học hữu ích bao gồm:

- Chỗ ngồi chiến lược: các học sinh ngồi khoảng 1/3 xa về phía sau trong lớp học và qua một bên.

- Làm chậm tốc độ của bài học để có thêm thời gian xử lý.

- Làm việc trong các nhóm nhỏ.

- Các bài học ngắn hơn có thể.

- Giảm tiếng ồn trong lớp học bằng cách đóng cửa sổ và cửa ra vào, tắt các đồ vật gây ồn trong lớp học, mỗi lần chỉ có một người nói.

Làm gì?1. Trẻ em cần nghe được đủ âm thanh nhỏ với máy nghe và ốc tai điện tử để chúng có thể nghe được tiếng nói nhỏ. Xử lý tín hiệu tiên tiến cần được sử dụng một cách thích hợp.2. Các hệ thống microphone từ xa tuyệt đối cần thiết cho tất cả trẻ em nghe và học trong lớp học.3. Giáo dục giáo viên về mệt mỏi và mất thính lực. Giúp họ trở nên nhạy cảm với các tác động của mệt mỏi và để có thể xác định khi nó xuất hiện.4. Giáo dục gia đình và trẻ em về mệt mỏi do nghe và giúp họ hiểu những gì họ có thể làm.5. Hãy chắc chắn trẻ em có các khoảng “giải lao nghe” trong ngày trước khi chúng vào lớp và sẵn sàng nghe và học lại.

TTƯT.BS.CKII. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

(Theo Hyperlink reference not valid)

Cách nhận biết sớm trẻ sốt xuất huyết

Con gái tôi năm nay 6 tuổi, cháu bị sốt cao 2 ngày nay (không ho, không sổ mũi) đã uống thuốc hạ sốt nhưng không đỡ. Liệu có phải cháu bị sốt xuất huyết?

Trần Thị Hằng (tranhang@gmail.com)

Sốt xuất huyết (SXH) là bệnh do virut gây ra, có 2 triệu chứng cơ bản, đó là: sốt và xuất huyết. Trong đó triệu chứng sốt là cơ bản vì luôn xảy ra lúc bệnh khởi phát. Chứng sốt trong bệnh SXH có một số đặc điểm khác với chứng sốt của bệnh khác với 3 đặc điểm: sốt đột ngột bất thình lình (trước đó trẻ hoàn toàn bình thường); sốt cao: nhiệt độ lên tới 39-40oC hoặc cao hơn, sờ vào trán trẻ thấy nóng ran; sốt liên tục, liên miên ngày đêm không lúc nào ngưng, có cho trẻ dùng thuốc hạ sốt thì nhiệt độ cũng chỉ giảm một lát lại tăng lên. Triệu chứng xuất huyết thường xảy ra sau khi bắt đầu sốt một vài ngày và rất đa dạng như xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc,... Xuất huyết dưới da thường ở cẳng tay cẳng chân, nách ngực, thắt lưng. Biểu hiện chấm xuất huyết (những chấm đỏ không biến mất khi ấn vào, đây cũng chính là điểm để phân biệt với trường hợp nốt đỏ do phát ban khi ấn vào sẽ biến mất)...; xuất huyết niêm mạc như chảy máu mũi (chảy máu cam), chảy máu răng, đại tiện ra máu; ở nữ tuổi dậy thì có thể xuất huyết âm đạo (kinh nguyệt trước kỳ). Điều cần lưu ý là có tới 4 týp virut gây SXH, do vậy người bệnh mắc SXH rồi vẫn có thể bị mắc. Nghĩ ngay đến SXH khi trẻ sốt liên miên, uống thuốc hạ sốt bớt rồi lại sốt, không ho, không sổ mũi; hoặc nếu thấy trẻ sốt dùng thuốc hạ sốt 2 ngày không đỡ và thấy những chấm đỏ dưới da ấn không mất đi, cần cho trẻ đi khám ngay tại cơ sở y tế.

BS. Trần Kim Anh

10 dấu hiệu “tố” bạn đang stress

Trên thực tế, một nghiên cứu cho thấy 33% người trưởng thành cho biết có mức độ căng thẳng cao. Tình trạng này liên quan đến một danh sách dài các triệu chứng thể chất và tinh thần. Dưới đây là 10 dấu hiệu và triệu chứng chung “tố” bạn đang bị stress:

1. Mụn trứng cá: Mụn trứng cá là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất biểu hiện của sự căng thẳng. Khi một số người cảm thấy căng thẳng, họ có xu hướng chạm tay vào khuôn mặt thường xuyên hơn. Điều này có thể làm lây lan vi khuẩn và góp phần vào sự phát triển của mụn trứng cá. Một nghiên cứu đo mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá ở 22 người trước và trong một kỳ thi; kết quả cho thấy tăng mức độ căng thẳng do kết quả của kỳ thi có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá. Ngoài stress, các nguyên nhân tiềm ẩn khác của mụn trứng cá bao gồm sự thay đổi hormon, vi khuẩn, sản xuất dầu dư thừa trên da và các lỗ chân lông bị tắc nghẽn.

Mụn trứng cá là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất biểu hiện của sự căng thẳng.

Mụn trứng cá là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất biểu hiện của sự căng thẳng.

2. Nhức đầu: Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng stress có thể gây ra nhức đầu - một tình trạng đau thắt đặc trưng ở vùng đầu và cổ. Một nghiên cứu của 267 người bị nhức đầu kinh niên phát hiện ra rằng có một sự kiện căng thẳng trước khi xuất hiện đau đầu mạn tính trong khoảng 45% trường hợp. Một nghiên cứu khác khảo sát 150 thành viên quân đội tại một bệnh viện có chuyên khoa điều trị nhức đầu, phát hiện ra rằng 67% người cho biết họ bị nhức đầu do stress gây ra. Các triệu chứng gây nhức đầu thông thường khác bao gồm thiếu ngủ, tiêu thụ nhiều rượu và mất nước.

3. Đau nhức mạn tính: Đau nhức cơ thể có thể là kết quả của sự gia tăng mức độ căng thẳng. Nồng độ cortisol tăng lên do căng thẳng có thể liên quan đến chứng đau mạn tính. Ngoài căng thẳng, có nhiều yếu tố khác có thể góp phần làm đau mạn tính, bao gồm lão hóa, thương tích, tư thế làm việc và vận động sai, tổn thương thần kinh.

4. Hay mắc bệnh: Nếu bạn cảm thấy hay đau vặt hoặc cảm mạo, căng thẳng có thể là nguyên nhân. Căng thẳng làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn và làm tăng khả năng nhiễm trùng. Trong một nghiên cứu, 61 người lớn tuổi đã được tiêm vắc-xin cúm.Những người bị căng thẳng kinh niên đã thấy có đáp ứng miễn dịch yếu với vắc-xin, cho thấy rằng căng thẳng có thể liên quan đến giảm miễn dịch. Trong một nghiên cứu khác, 235 người lớn được phân loại thành nhóm có nguy cơ cao hoặc thấp; trong khoảng thời gian 6 tháng, những người trong nhóm căng thẳng đã trải qua 70% trường hợp nhiễm khuẩn đường hô hấp.

5. Giảm năng lượng và mất ngủ: Mệt mỏi mạn tính và giảm mức năng lượng một phần là do căng thẳng kéo dài. Stress cũng phá vỡ giấc ngủ và gây mất ngủ, đồng thời dẫn đến năng lượng thấp. Các yếu tố khác đóng một vai trò trong việc giảm mức năng lượng bao gồm mất nước, lượng đường trong máu thấp, chế độ ăn kém hoặc nhược giáp.

6. Suy giảm ham muốn tình dục: Mức căng thẳng cao hơn có liên quan đến mức độ hoạt động tình dục thấp hơn. Có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác của sự thay đổi trong ham muốn tình dục, bao gồm thay đổi hormon, mệt mỏi và các nguyên nhân tâm lý.

7. Các vấn đề về tiêu hóa: Các vấn đề về tiêu hoá như tiêu chảy và táo bón cũng có thể do căng thẳng. Căng thẳng có thể ảnh hưởng đến những người có rối loạn tiêu hóa như hội chứng ruột kích thích (IBS) hoặc viêm ruột (IBD). Ngoài ra, hãy nhớ rằng nhiều yếu tố khác có thể gây ra các vấn đề về tiêu hóa như chế độ ăn uống, mất nước, mức độ hoạt động thể chất, nhiễm trùng hoặc do một số thuốc nhất định.

8. Thay đổi thèm ăn: Sự thay đổi thèm ăn thường gặp trong thời kỳ căng thẳng. Khi bạn cảm thấy căng thẳng, bạn có thể thấy mình không có sự thèm ăn. Một nghiên cứu của sinh viên đại học cho thấy rằng 81% cho biết họ cảm thấy thay đổi thèm ăn khi căng thẳng. Trong số này, 62% có sự thèm ăn tăng lên, trong khi 38% bị giảm thèm ăn. Các nguyên nhân khác có thể gây ra sự thèm ăn bao gồm việc sử dụng một số loại thuốc, sự thay đổi hormon và nguyên nhân tâm lý.

9. Trầm cảm: Stress mạn tính có thể góp phần gây ra chứng trầm cảm. Ngoài căng thẳng, những người có nguy cơ cao trầm cảm bao gồm tiền sử gia đình trầm cảm, các yếu tố môi trường và có thể do một số loại thuốc nhất định.

10. Nhịp tim nhanh và đổ mồ hôi: Nhịp tim sẽ cao hơn đáng kể trong điều kiện căng thẳng. Tiếp xúc với căng thẳng cũng có thể gây ra mồ hôi quá nhiều. Ra nhiều mồ hôi cũng có thể là do lo lắng, kiệt sức vì nóng, bệnh tuyến giáp và sử dụng một số thuốc nhất định.

Tóm lại, stress hay sự căng thẳng là điều mà hầu hết mọi người sẽ trải nghiệm tại một thời điểm trong cuộc đời. Stress có thể ảnh hưởng xấu lên nhiều khía cạnh của sức khoẻ và có nhiều triệu chứng bao gồm giảm mức năng lượng và kích thích đau đầu hoặc đau mạn tính. Có nhiều cách để giúp giảm bớt căng thẳng, chẳng hạn như thực hành thiền, tập thể dục và yoga. Tốt nhất bạn nên có một lối sống lành mạnh và chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng, điều này có thể giúp bạn quản lý stress thành công trong cuộc sống.

BS. Nguyễn Hải Lê