Kiểm soát cân nặng phòng thừa cân, béo phì ở trẻ

Trẻ cứ tăng cân đều đều dẫn đến thừa cân từ lúc nào cũng không hay biết. Vì vậy cần kiểm soát cân nặng ở mức “nên có” của trẻ để dự phòng tình trạng thừa cân - béo phì.

Đánh giá cân nặng, chiều cao bình thường của trẻ thế nào?

Điều này rất đơn giản bằng cách sử dụng 2 dụng cụ là cân và thước. Hàng tháng, bà mẹ cân trẻ và đo chiều cao vào một ngày nhất định, trước lúc ăn hoặc sau ăn để có số liệu chính xác (chú ý chỉ mặc quần áo mỏng hoặc trừ quần áo). Với trẻ dưới 24 tháng tuổi đo chiều dài nằm và từ 24 tháng tuổi trở lên đo chiều cao đứng. Cân nặng của trẻ sơ sinh đủ tháng, khoẻ mạnh, lúc mới sinh trung bình khoảng 3.000gam (3kg).

Nếu cân nặng dưới 2.500 gam (2,5kg) thường là trẻ bị thiếu tháng hoặc bị suy dinh dưỡng bào thai (đẻ đủ tháng nhưng cân nặng dưới 2.500 gam). Do vậy, điều quan trọng nhất bà mẹ phải tự nhận thấy con mình đang phát triển bình thường, hay phát triển lệch một trong 2 chỉ số về cân nặng hay chiều cao, từ đó đưa ra chế độ ăn phù hợp với nhu cầu phát triển để dự phòng sớm thừa cân - béo phì.

Thừa cân béo phì ở trẻ ngày càng gia tăng.

Thừa cân béo phì ở trẻ ngày càng gia tăng.

Sự phát triển bình thường về cân nặng của trẻ

Một trẻ khỏe mạnh, phát triển bình thường khi ăn đủ nhu cầu sẽ tăng cân hàng tháng. Ví dụ: Cân nặng của trẻ sơ sinh đủ tháng, khỏe mạnh trung bình khoảng 3.000 gam (3kg); 3 tháng đầu trẻ phát triển rất nhanh tăng cân từ 1.000-1.200g/tháng; 3 tháng tiếp theo tăng cân từ 500-600g/tháng; 6 tháng tiếp theo chỉ tăng cân từ 300-400g/tháng, khi 1 tuổi trẻ nặng gấp 3 lần lúc mới sinh (khoảng 9-10kg). Trẻ từ 2-10 tuổi cân nặng tăng trung bình 2,4 kg/năm và có thể tính cân nặng của trẻ theo công thức sau:

Xn = 9,5 kg + 2,4 kg x ( N-1)

(Trong đó: Xn là cân nặng hiện tại của trẻ (kg); 9,5 là cân nặng của trẻ lúc 1 tuổi; 2,4 là cân nặng tăng trung bình trong 1 năm; N là số tuổi của trẻtính theo năm).

Như vậy, với trẻ 1 tuổi thì cân nặng là:

9,5 kg + 2,4 kg x ( N-1) = 9,5 + 2,4 kg x (1-1) = 9,5kg

Với trẻ 2 tuổi thì cân nặng là:

9,5kg + 2,4kg x (2-1) = 9,5kg + 2,4kg = 11,9kg

Sự phát triển bình thường về chiều cao của trẻ

Chiều dài trung bình của trẻ sơ sinh khoảng 50cm, 3 tháng đầu trẻ tăng từ 3-4,5cm/tháng, 3 tháng tiếp theo tăng từ 2-2,5cm/tháng, 3 tháng tiếp tăng 2cm/tháng, những tháng tiếp theo tăng từ 1-1,5cm. Khi trẻ 1 tuổi có chiều dài gấp 1,5 lần lúc mới sinh (75cm), trẻ 2 tuổi chiều cao là 86-87cm (bằng 1/2 chiều cao người trưởng thành), trẻ 3 tuổi có chiều cao là 95-96cm, trẻ từ 4 - 10 tuổi chiều cao tăng trung bình 6,2cm/năm.

Chiều cao trung bình của trẻ từ 2 tuổi có thể áp dụng công thức sau:

Xc = 95,5 cm + 6,2 cm x (N-3)

(Trong đó: Xc là chiều cao nên có của trẻ (cm); 95,5 là chiều cao của trẻ lúc 3 tuổi; 6,2 là chiều cao tăng trung bình trong 1 năm; N là số tuổi của trẻtính theo năm)

Ví dụ: Chiều cao trung bình của trẻ từ 4 tuổicó thể áp dụng công thức sau:

Xc = 95,5 cm + 6,2 cm x (N-3)

Xc là chiều cao nên có của trẻ (cm)

95,5 là chiều cao của trẻ lúc 3 tuổi

6,2 là chiều cao tăng trung bình trong 1 năm

N là số tuổi của trẻ (tính theo năm)

Ví dụ với trẻ 4 tuổi thì chiều cao là:

95,5 cm + 6,2 cm x (4-3) = 95,5 cm + 6,2 cm x 1 = 101,7 cm

Cách phát hiện sớm trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng ở cộng đồng?

Biện pháp đơn giản để nhận biết được trẻ phát triển bình thường hay có nguy cơ bị suy dinh dưỡng bằng cách theo dõi diễn biến cân nặng và chiều cao bằng biểu đồ phát triển. Sau mỗi lần cân trẻ, số cân nặng của trẻ chấm lên biểu đồ tăng trưởng ta có một điểm tương ứng với tháng tuổi của trẻ, nối điểm cân nặng vừa chấm với điểm cân nặng tháng trước, cứ liên tục như vậy sẽ có được được “Con đường sức khỏe” của trẻ.

- Hàng tháng trẻ tăng cân đều đặn đó là dấu hiệu quan trọng của một đứa trẻ khoẻ mạnh, phát triển bình thường.

- Không tăng cân là dấu hiệu báo động về sức khoẻ và nuôi dưỡng chưa tốt (nguy cơ bị suy dinh dưỡng).

Làm thế nào để phát hiện trẻ béo phì?

Đối với trẻ dưới 5 tuổi:

- Trẻ được coi là đã bị thừa cân khi chỉ số cân nặng theo chiều cao hiện đã vượt quá 2 độ lệch chuẩn (SD) nhưng chưa vượt qúa 3 SD.

- Trẻ bị béo phì khi có chỉ số cân nặng so với chiều cao vượt quá 3 SD.

Đối với trẻ trên 5 tuổi (6-19 tuổi):

- Trẻ coi bị thừa cân khi có BMI theo tuổi vượt quá 2 SD nhưng chưa vượt vượt quá 3 SD (2SD < BMI theo tuổi ≤3 SD);

- Trẻ được coi là béo phì khi BMI theo tuổi vượt quá 3 SD (3 SD < BMI theo tuổi).

Cần chú ý: khi trẻ có BMI theo tuổi đã vượt quá 1 SD và chưa vượt quá 2 SD (1SD <BMI theo tuổi ≤2 SD) là đã có nguy cơ bị thừa cân, nếu trẻ có BMI theo tuổi càng gần về phía 2SD thì nguy cơ càng lớn. Nếu không có biện pháp kịp thời là điều chỉnh chế độ ăn và hoạt động thể lực, trẻ sẽ sớm bị thừa cân và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Để xác định trẻ béo phì, bà mẹ cần phải biết chính xác cân nặng, chiều cao của trẻ, sau đó dựa vào bảng Z-score cân nặng/chiều cao theo tuổi và BMI theo tuổi của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 để đánh giá theo ngưỡng phân loại trên.

Bạn có thể tham khảo bảng phân loại tình trạng của trẻ gái dựa vào BMI vủa WHO-2007, bạn muốn biết chi tiết hay vào trang web của Viện Dinh dưỡng Quốc gia:

http://viendinhduong.vn/FileUpload/Documents/01_bmifa_boys_5_19years.pdf

PH N LOẠI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG

CỦA TRẺ GÁI 5-19 TUỔI DỰA VÀO BMI (WHO-2007)

Năm:

Tháng

Tháng

-3 SD

-2 SD

-1 SD

TB

-1 SD

2 SD

3 SD

5:01

61

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,3

5:02

62

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,4

5:03

63

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,5

5:04

64

11,8

12,7

13,9

15,2

16,9

18,9

21,5

5:05

65

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,6

5:06

66

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,7

5:07

67

11,7

12,7

13,9

15,2

16,9

19,0

21,7

5:08

68

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

21,8

5:09

69

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

21,9

5:10

70

11,7

12,7

13,9

15,3

17,0

19,1

22,0

ThS.BS. Nguyễn Văn Tiến (Trung tâm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Tiểu không tự chủ

Tiểu bình thường là như thế nào?

Một cơ thể khỏe mạnh bình thường thường có số lần đi tiểu mỗi ngày khoảng 7- 8 lần, ban ngày 7 lần ban đêm 1 lần là hợp lý; mỗi lần khoảng 300ml, tổng không quá 3.000ml/ ngày. Ban đêm có thể đi tiểu 1 lần. Nếu tiểu nhiều lần hơn về đêm có thể là vì trước khi ngủ uống quá nhiều nước. Sau khi uống nước chừng 30 - 45 phút thường đi tiểu một lần. Về cơ bản, quá trình trao đổi chất nước trong cơ thể cần 30 - 45 phút, nhưng khoảng thời gian này có thể linh động phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Một là ăn mặn hoặc nhạt, khi ăn quá mặn, thời gian bài tiết nước tiểu sẽ mất nhiều thời gian hơn, vì muối sẽ làm cho khả năng giữ nước trong cơ thể lâu hơn. Lượng nước tiểu thải ra một ngày khoảng 1.500ml. Mỗi ngày lượng nước tiểu bài tiết là khoảng 1.500 - 3.000ml là bình thường.

Tiểu không tự chủ

Tiểu không tự chủ là gì?

Tiểu không không tự chủ hay tiểu không kiểm soát hiện tượng tiểu són, tiểu ít, tiểu gấp, tiểu không điều khiển được (không theo ý mình) hoặc tiểu nhiều lần gây khó chịu. Tiểu không tự chủ là một dấu hiệu hay triệu chứng của rối loạn chức năng đường tiểu chứ không phải là một bệnh.

Sau khi uống nước chừng 30 – 45 phút thường đi tiểu một lần

Nguyên nhân

Chứng tiểu không tự chủ có nhiều nguyên nhân tại bàng quang, tại cơ thắt (bàng quang, niệu đạo) gọi là hoạt động quá mức của cơ bức niệu gặp ở NCT. Hoạt động quá mức của cơ bức niệu làm cho sự co bóp của bàng quang không thể ức chế được, dẫn đến tiểu tiện không tự chủ, nước tiểu thoát ra ngoài. Đây là nguyên nhân hay gặp nhất về tiểu tiện không tự chủ ở NCT(chiếm khoảng 2 phần 3 trường hợp). Hoạt động quá mức của cơ bức niệu có thể do có sỏi bàng quang hoặc khối u, nên có thể có rối loạn ở tầng sinh môn, trên xương mu, đái ra máu kèm theo tiểu tiện không tự chủ. Bên cạnh đó có một số nguyên nhân hay gặp nhất là do trạng thái tâm thần, thần kinh không ổn định (hay gặp nhất là stress, đặc biệt là nữ giới hoặc do mê sảng, bồn chồn, lo lắng một vấm đề gì đó), rối loạn giấc ngủ hoặc do bất thường điều gì đó (viêm nhiễm, do dùng một loại thuốc nào đó, ví dụ thuốc lợi tiểu…) ở đường tiểu (thận, bàng quang, niệu đạo) hoặc do hạn chế vận động (lười, bị liệt, tuổi cao sức yếu…) hoặc do ảnh hưởng của ghế ngồi… Tiểu không tự chủ có thể do rối loạn cố định ở bàng quang như: tăng hoặc giảm hoạt động của cơ bàng quang, cơ cổ bàng quang hoặc do giãn bàng quang hoặc dị dạng bàng quang bẩm sinh hoặc bệnh ở đường tiết niệu (viêm, sỏi, u…). Ở nữ giới có tuổi, tiểu không tự chủ có thể có sự kết hợp giữa viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo. Ở những vị trí đó, niêm mạc bị mòn, co giãn mao mạch, viêm. Mặt khác ở phụ nữ cao tuổi khi bị viêm niệu đạo thường lan đến tam giác bàng quang gây tiểu tiện không tự chủ. Ngoài ra, tiểu không tự chủ có thể do mắc một số bệnh về tiền liệt tuyến ở nam giới (viêm, tăng sinh lành tính, u hoặc ung thư…), bệnh đái tháo đường (đái nhiều, khát nhiều nên uống nhiều, càng uống nhiều nước càng đái nhiều), bệnh suy tim… hoặc do bệnh béo phì. Béo phì là do sự gia tăng cân nặng làm tăng sức chèn ép tới bàng quang từ đó làm tăng nguy cơ tiểu không kiểm soát, đó cũng là phân tích đưa ra từ nhiều chuyên gia lý giải cho hiện tượng tiểu không kiểm soát ở người bệnh béo phì.

Biểu hiện

Ở phương Tây, tỉ lệ mắc chứng tiểu không tự chủ, khoảng 35% ở phụ nữ lớn tuổi vào và 22% nam giới lớn tuổi và tỉ lệ bệnh tăng cao ở các nhà dưỡng lão có thể lên đến 60%. Ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức về chứng bệnh này. Chứng tiểu không tự chủ thay đổi theo mức độ nghiêm trọng từ hiện tượng chảy một ít nước tiểu khi có gia tăng áp lực ổ bụng khi gắng sức (ho, rặn…) tới mức độ són tiểu liên tục, đến nặng hơn là tiểu không kiểm soát (không tự chủ) và có thể có kèm theo đại tiện không tự chủ. Thông thường tiểu không tự chủ hay gặp là tiểu són, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, mỗi lần nước tiểu ít, ra không hết, sau khi đi tiểu nước tiểu còn són ra, thậm chí đái dầm, cần mặc quần có loại vải không thấm và luôn thay quần.

Tiểu không tự chủ

Biến chứng

NCT tiểu tiện không tự chủ gây nhiều phiền toái cho ngay cả người bệnh và cả người chăm sóc. Bên cạnh đó, tiểu tiện không tự chủ có thể gây nên nhiễm trùng đường tiết niệu do nước tiểu ứ đọng trong bàng quang. Trước tiên là gây nhiễm trùng bàng quang, dần dần gây viêm ngược dòng lên thận làm viêm dài bể thận, ứ mủ nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể bị suy thận.

Nguyên tắc điều trị tiểu tiện không tự chủ

Trước hết, nên được khám bệnh một cách toàn diện để xác định nguyên nhân, trên cơ sở đó cần điều trị nguyên nhân triệt để dưới sự chỉ định của bác sĩ khám chưã bệnh. Với NCT, cần lưu ý đến trạng thái tâm thần, nhất là strees, rối loạn giấc ngủ. Khi NCT tiểu không tự chủ quá nặng (đái dầm) cần được mặc các loại quần bằng vải không thấm nước và luôn được thay, rửa sạch, lau khô da vùng bẹn, mông. Bởi vì, da ở vùng này rất dễ bị loét do vậy khi đái dầm có thể bị nhiễm trùng. Ngoài sự giúp đỡ người bệnh, không nên la mắng họ, bởi vì NCTrất dễ tủi thân và nên giải thích cho họ biết, đó là bệnh không phải do họ gây ra để họ không xấu hổ.

Lời khuyên của thầy thuốcĐể hạn chế mắc chứng tiểu không tự chủ, NCT nên có cuộc sống bình an, không lo lắng suy nghĩ về những việc đã qua trong cuộc sống, không quá lo lắng về một số bệnh tật của mình. Để làm tốt các việc đó, NCT nên vận động cơ thể hàng ngày theo các bài tập phù hợp với NCT hoặc đi bộ ngày 60 phút chia làm 2 lần. Hàng ngày nên tăng cường hoạt động về mặt tinh thần như xem vô tuyến, đọc sách báo hoặc viết sách, báo (nếu có điều kiện), tham gia câu lạc bộ NCT. Bên cạnh đó, nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý với NCT, không nên uống rượu, bia, không hút thuốc. Buổi tối hạn chế uống nước, không uống cà phê, trà đặc bởi sẽ gây rối loạn giấc ngủ.

BS. NGUYỄN VĂN BÌNH

Viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Khi dây thanh âm bị kích thích dẫn đến sưng phồng, giọng nói của trẻ trở nên khàn khàn và khó nghe hơn thường lệ, đó là bệnh viêm thanh quản. Nguyên nhân do trẻ la hét quá nhiều làm cho dây thanh âm bị kích thích. Đôi khi, trẻ hát quá lớn cũng dễ mắc bệnh. Triệu chứng thông thường là giọng nói trở nên khàn đặc hoặc khô khốc, có khi bị tắt tiếng hoặc cố gắng nói nhưng không nói được mà chỉ phát ra những âm thanh the thé, khó nghe.

Cũng có trường hợp bệnh do bao tử gây nên, nguyên nhân vì thỉnh thoảng lượng acid có trong bao tử có tác dụng làm tiêu hóa thức ăn bị trào ngược lên ống dẫn thức ăn, làm cho dây thanh âm bị kích thích. Sự dị ứng hoặc khói thuốc lá cũng gây kích thích dây thanh âm. Nói chung, nhiễm trùng từ vi khuẩn chính là nguyên nhân chính gây viêm phế quản ở trẻ, lẫn người lớn. Đôi khi, dây thanh âm bị nhiễm trùng cùng loại vi khuẩn thường gây bệnh sổ mũi và cảm cúm ở trẻ. Đó cũng là lý do khi trẻ bị cúm hoặc ho nhiều giọng nói cũng trở nên khó nghe hơn. Để bảo vệ thanh quản:

- Không cho trẻ la hét quá lớn trong khi vui chơi để tránh làm trẻ khàn giọng.

- Không cho trẻ tiếp xúc nhiều với hệ thống máy giữ độ ẩm không khí, vì dễ làm cho cuống họng bị khô.

- Tránh để trẻ tiếp xúc với môi trường có khói, bụi, thuốc lá…

- Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.

- Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi và không khạc nhổ bừa bãi.

- Nếu viêm phế quản do virút gây nên, cần cho trẻ đến khám bác sĩ để được nhỏ thuốc. Trường hợp này, trẻ cần hạn chế nói chuyện để tránh làm đau rát cuống họng, thay vào đó hãy hướng dẫn cho trẻ cách ra dấu để diễn đạt khi muốn nói chuyện hoặc viết, vẽ ra giấy. Nếu do bao tử, bác sĩ sẽ kê thuốc, khuyến khích thay đổi cách ăn uống để loại trừ một thức ăn có thể làm bệnh trở nên trầm trọng hơn.

(Theo Kids Laryngitis Disease)

ĐỖ QUYÊN

Đã mắc Rubella có mắc sởi nữa không?

Xin bác sĩ cho biết nếu đã mắc Rubella thì có cần tiêm vắc-xin phòng sởi nữa không?

Nguyễn Vũ Việt Anh(vietanh @gmail.com)

Bệnh Rubella còn gọi bệnh sởi Đức - là bệnh truyền nhiễm do virut gây ra. Biểu hiện chính của bệnh là sốt, phát ban và nổi hạch sau tai. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc gần với người bị bệnh. Triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch. Sốt: đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC. Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết. Phát ban: lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Cần phân biệt với ban của sởi: Ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vảy như phấn rôm, trên da có các vằn màu sẫm. Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, sau đó không để lại di chứng. Để biết chính xác có phải Rubella bạn chỉ cần xét nghiệm máu. Trường hợp đã mắc Rubella sẽ có kháng thể suốt đời và không mắc lại nhưng nếu bạn chưa tiêm vắc-xin sởi, quai bị, thì bạn vẫn là đối tượng có nguy cơ mắc 2 bệnh sởi và quai bị và lời khuyên bạn nên tiêm phòng ngay.

BS. Trần Duy Minh

Dụng cụ làm bếp có thể lây truyền vi khuẩn

Các nhà nghiên cứu từ trường Khoa học nông nghiệp và môi trường, ĐH Georgia phát hiện ra dụng cụ làm bếp có thể lây lan vi khuẩn tới các sản phẩm khác nhau. Theo đó, các nhà nghiên cứu khuyến nghị người dân rửa sạch dụng cụ làm bếp như dao, dụng cụ gọt vỏ, nạo trước khi sử dụng chúng để cắt trái cây hoặc rau.

Tác giả cho biết việc dụng cụ làm bếp có thể dẫn tới lây nhiễm chéo là quan trọng. Nhờ nhận thức được điều này, người dân sẽ ý thức hơn để rửa sạch chúng giữa các lần sử dụng. Không chỉ những dụng cụ này lây truyền vi khuẩn mà các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra những sản phẩm khác cũng lây truyền ở những mức độ khác nhau.

Ví dụ nếu cắt 1 quả cà chua hỏng thì vi khuẩn để lại trên dao nhiều hơn so với khi bạn cắt dâu tây. Các tác giả không biết rõ tại sao có sự khác biệt giữa các nhóm thực phẩm khác nhau, nhưng đều biết rằng khi một tác nhân gây bệnh có trong thực phẩm thì rất khó có thể loại bỏ.

Năm 2014, các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã kiểm tra các loại thớt thường dùng trong bếp và thấy rằng chúng cũng có thể lây truyền vi khuẩn. Khoảng 3,5% số thớt được kiểm tra ngẫu nhiên ở nhà mang vi khuẩn E.coli và 6,5% số thớt được kiểm tra ở bệnh viện nhiễm loại vi khuẩn kháng thuốc này.

Theo Bệnh viện Mayo, không giống như nhiều vi khuẩn gây bệnh khác, E.coli có thể gây nhiễm trùng ngay cả khi bạn chỉ tiếp xúc với một lượng nhỏ. Thịt bò, sữa chưa tiệt trùng và sản phẩm tươi sống đều là những “phương tiện chuyên chở” và con đường lây lan vi khuẩn cho người, dẫn tới tiêu chảy, đau bụng dữ dội, nôn và sốt. Một số loại rau như rau bina, rau diếp dễ chứa vi khuẩn, tuy nhiên nhóm nghiên cứu của Erikson phát hiện thấy cà chua đặc biệt gây lây nhiễm chéo qua đồ cắt gọt này.

Dụng cụ làm bếp có thể lây truyền vi khuẩn

Samollea là một loại vi khuẩn khác có thể bị lây truyền qua dụng cụ cắt gọt trong bếp. Theo Trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh Mỹ, mỗi năm có hơn 1 triệu người Mỹ bị nhiễm vi khuẩn Salmonella, 380 người trong số đó tử vong. Vi khuẩn đa kháng thuốc gây bệnh hen, sốt, và đau bụng trong vòng 12-72 giờ, kéo dài trung bình tới 1 tuần.

Bộ Y tế và Dịch vụ nhân sinh Mỹ đã cảnh báo vi khuẩn gây bệnh có thể sống ở nhiều nơi trong bếp, bao gồm cả tay bạn. Rửa tay ít nhất 20 giây với nước ấm hoặc nước lạnh và xà phòng có thể ngăn chặn sự lây lan vi khuẩn, chà lưng bàn tay với gừng và dưới móng 2 lần, tráng và lau khô bằng khăn sạch.

Khi chuẩn bị thực phẩm, ngay cả trước khi gọt hoa quả điều quan trọng là phải làm sạch chúng để tránh vi khuẩn có thể lây lan từ ngoài vào trong. Cũng cần rửa các loại trái cây như dưa hấu hoặc dưa chuột với bàn chải sạch. Cắt bỏ những khu vực bị dập, thâm, lau khô quả bằng khăn giấy hoặc vải sạch.

Tuy nhiên, những kết quả mới nhất này khuyến nghị người dân rửa sạch các dụng cụ làm bếp và sản phẩm là một biện pháp dự phòng cần thiết.

BS Tuyết Mai

Theo Medicaldaily

Cách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnCách chọn cam xoàn Việt ngon chuẩn xịnChọn rau ngót an toàn để phòng ngộ độcChọn rau ngót an toàn để phòng ngộ độcMen tiêu hóa: Dùng bừa = hại trẻMen tiêu hóa: Dùng bừa = hại trẻ

(Univadis)

Lão thị ngày càng trẻ hóa

Tuy nhiên, ngày nay do cuộc sống hiện đại sử dụng nhiều thiết bị điện tử: máy vi tính, smart phone, tivi,... có thể bị lão hóa mắt nên tình trạng này đang ngày càng trẻ hóa.

Vì sao bị lão thị?

Lão thị không phải là một bệnh lý. Đó là một quá trình lão hóa của mắt. Khác với loạn thị, cận thị và viễn thị là những vấn đề khúc xạ liên quan đến hình dạng nhãn cầu do các yếu tố di truyền và môi trường, lão thị là một biểu hiện của quá trình lão hóa. Nhiều nhà khoa học cho rằng lão thị bắt nguồn từ sự hình thành các protein trong thủy tinh thể, gây xơ hóa, làm cho thủy tinh thể cứng lên và mất dần khả năng đàn hồi theo thời gian. Khi đó thủy tinh thể không còn khả năng phồng lên xẹp xuống, thay đổi công suất hội tụ, phục vụ cho việc điều tiết như khi còn trẻ. Thêm vào đó, cơ mi cũng đóng vai trò quan trọng. Ở người lớn tuổi, trương lực của những sợi cơ này suy giảm, không đủ mạnh để co kéo các dây chằng quanh xích đạo thủy tinh thể, khiến thủy tinh thể bị cứng và chỉ còn một điểm hội tụ thay vì một dải hội tụ.

Ở những người tuổi trung niên (thường từ 40 tuổi) khi nhìn gần hoặc đọc sách sẽ thấy mờ và để nhìn rõ người đó phải đưa sách ra xa mắt. Đó là tình trạng lão thị. Ngoài ra, những người có bệnh mạn tính: bệnh hệ thống như tăng huyết áp và tiểu đường; gia đình có người bị glôcôm hay thoái hóa hoàng điểm; môi trường làm việc độc hại với mắt hoặc làm việc cật lực bằng mắt; toàn thân có các vấn đề về rối loạn chuyển hóa, mỡ máu, tuyến giáp, viêm khớp, trầm cảm,.. dễ bị lão thị nhanh hơn. Trái lại, lão thị xuất hiện chậm ở người cận thị.

Sau khi được chẩn đoán lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác.

Sau khi được chẩn đoán lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác.

Dấu hiệu nhận biết

Người bị lão thị sẽ cảm thấy mắt mờ khi nhìn gần, ví dụ như khi đọc sách, khâu vá...Khi đọc sách, người bị lão thị không nhìn rõ những chữ nhỏ hoặc đọc sách một thời gian sẽ thấy chữ bị nhòe, nhìn không rõ. Sau khi ngưng đọc một thời gian, tiếp tục đọc lại thì chữ có thể rõ lại như ban đầu. Muốn đọc sách rõ cần phải tăng thêm ánh sáng hoặc đưa sách ra xa mắt. Khi đọc sách hoặc khâu vá lâu, người lão thị sẽ cảm thấy mỏi mắt và phải đặt sách ở một khoảng cách thích hợp.

Nếu để ra xa (ngoài 33cm) thì có thể đọc được, tuy nhiên cảm thấy chóng mỏi mắt, có khi nhức đầu sau lúc làm việc hoặc vào buổi chiều.

Điều trị thế nào?

Việc điều trị lão thị tương đối đơn giản: Chỉ cần dùng kính điều chỉnh người bị lão thị sẽ cảm thấy nhìn rõ trở lại. Kính điều chỉnh có thể vừa điều chỉnh lão thị và vừa điều chỉnh cận thị, viễn thị, loạn thị. Sau khi được chẩn đoán lão thị, người bị lão thị cần phải đeo kính để nhìn gần được rõ ràng, chính xác. Thật ra thì có một số ít người bị lão thị không dùng kính, cố gắng để sách xa mắt vẫn đọc được, có khi phải nheo mắt để nhìn rõ. Tuy vậy sau khi đọc sách hoặc sau khi làm việc sẽ thấy mệt mỏi, nhức đầu do mắt phải điều tiết quá mức.

Người lão thị cần phải khám chuyên khoa mắt để chọn kính đeo thích hợp.

Tiêu chuẩn một kính tốt là đọc được rõ ràng, dùng lâu vẫn cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Chất lượng của kính còn phụ thuộc kỹ thuật làm kính, độ nặng của gọng, độ chênh của mắt kính và khoảng cách giữa kính và mắt. Thông thường người lão thị nên kiểm tra mắt mỗi năm một lần để điều chỉnh độ kính cho phù hợp.

Lời khuyên của thầy thuốcDo lão thị là hiện tượng sinh lý, thủy tinh thể bị suy giảm chức năng theo tuổi nên hầu như không có biện pháp phòng ngừa. Tuy nhiên, có thể chăm sóc mắt một cách hợp lý nhằm kéo dài độ tuổi khỏe mạnh của mắt. Các biện pháp dễ dàng áp dụng như: Kiểm tra mắt định kỳ, đặc biệt đối với các bệnh nhân mang bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận. Đeo kính mát để bảo vệ mắt khỏi ánh sáng mặt trời. Đeo kính bảo vệ mắt không bị chấn thương. Có chế độ ăn giàu dinh dưỡng, đa dạng nguồn thực phẩm. Tránh những thói quen gây hại đến mắt như: đọc sách trong cường độ ánh sáng yếu, sử dụng màn hình máy tính, ipad... quá lâu, thức khuya làm việc thường xuyên...

BS. Hải Yến

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

trong đó hệ xương khớp là một trong những bộ phận chịu tác hại nghiêm trọng của tình trạng này.

Tình trạng thừa cân và béo phì đã và đang trở thành một nguy cơ của sức khỏe. Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tình trạng này đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây, nhất là ở trẻ em, bên cạnh một số lượng không nhỏ các bệnh nhân bị suy dinh dưỡng.

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

Chẩn đoán thừa cân và béo phì

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dùng chỉ số nhân trắc học dựa vào chiều cao và cân nặng, đó là chỉ số cơ thể (BMI) tính bằng cân nặng cơ thể (kg) chia cho chiều cao bình phương (m), và phân ra các mức độ như sau: BMI dưới 18,5 kg/m2: gọi là thiếu cân, gầy; BMI từ 18,5 - 24kg/m2: bình thường; BMI từ 25 - 30: kg/m2: thừa cân và BMI trên 30kg/m2: béo phì. Các chỉ số này thấp hơn một chút khi áp dụng cho người châu Á. Gần đây với các kỹ thuật đo thành phần cơ thể hiện đại như đo bằng máy hấp thụ năng lượng kép sử dụng tia X (DEXA) cho phép xác định chính xác khối mỡ, khối nạc, khối xương toàn thân, giúp ích nhiều cho chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh. Tuy nhiên, do giá thành còn cao nên chưa được phổ biến rộng rãi.

Đối với trẻ em, thiếu niên (từ 2 - 20 tuổi) có thể tính chỉ số BMI và đối chiếu với bảng dưới đây:

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ emẢnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ emBệnh Blount

Thừa cân và béo phì gây hậu quả chung lên cơ thể

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:

Hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.

Hệ hô hấp: giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm.

Hệ nội tiết, chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tăng acid uric gây bệnh gút.

Tác động về tâm sinh lý: tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng.

Một số bệnh ung thư như: ung thư thực quản, trực tràng, vú...

Những ảnh hưởng

Ảnh hưởng của béo phì bộc lộ ngay từ khi còn trẻ như đi lại chậm chạp hơn, thường bị bạn bè cùng lứa chế giễu, làm cho trẻ béo phì ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình.

Khung xương bị tổn thương: sự dư thừa thể trọng khiến bộ xương của đứa trẻ béo phì bị quá tải dẫn đến biến dạng các chi dưới và cần có sự chỉnh hình: 80% số trẻ em bị vẹo đầu gối hay vẹo xương chày là những trẻ béo phì; đối với trẻ bị hoại tử dần đầu xương đùi, chủ yếu ở các bé trai, tỉ lệ đó là từ 50 - 70%. Nghiêm trọng là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), dễ bị bong gân mắt cá chân. Bệnh Blount là một rối loạn phát triển của xương ống chân (xương chày), trong đó chân thấp hơn quay vào trong, giống như một vòng cung. Bệnh Blount được cho là do ảnh hưởng của trọng lượng. Phần bên trong của xương ống chân, ngay dưới đầu gối, không phát triển bình thường, liên quan với béo phì và đi bộ sớm. Triệu chứng một hoặc cả hai cẳng chân quay vào trong. X-quang đầu gối và cẳng chân giúp khẳng định chẩn đoán. Điều trị bằng nẹp được sử dụng cho trẻ em phát triển biến dạng nghiêm trọng trước khi 3 tuổi. Nếu nẹp không hiệu quả, hoặc nếu vấn đề không được chẩn đoán cho đến khi trẻ lớn hơn, phẫu thuật thường là cần thiết. Phẫu thuật có thể liên quan đến việc cắt xương ống chân để đặt nó vào vị trí thích hợp. Lần khác, phẫu thuật được thực hiện để hạn chế sự tăng trưởng của nửa ngoài của xương ống chân. Điều này cho phép tăng trưởng tự nhiên của đứa trẻ để đảo ngược quá trình cong. Thất bại trong việc điều trị bệnh Blount của có thể dẫn đến biến dạng ngày càng tăng. Điều kiện có thể dẫn đến sự khác biệt về độ dài chân, có thể dẫn đến tàn tật nếu không được điều trị. Bệnh Blount của có thể trở lại sau khi phẫu thuật, đặc biệt là ở trẻ em.

Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em

Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis) gây tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong (coxa vara). Trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi xảy ra do đầu trên xương đùi bị trật khỏi vị trí bình thường ở hốc hông. Rối loạn này thường xảy ra ở trẻ em từ 11 - 16 tuổi, phổ biến hơn ở trẻ em trai và người thừa cân. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, bệnh có thể phục hồi hoàn toàn, nếu không được điều trị, đầu xương đùi có thể bị hoại tử do bị gián đoạn nguồn cung cấp (hoại tử vô mạch). Triệu chứng: đau đầu gối, đau hông, chân hướng ra ngoài khi di chuyển, cứng hông, hạn chế chuyển động hông, đi lại khó khăn, đi bộ với một chân. Chẩn đoán: hỏi bệnh sử và khám thực thể; chụp X-quang. Điều trị: giảm cân, tập vật lý trị liệu hoặc phẫu thuật là cần thiết để khắc phục các khiếm khuyết.

Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.

Nếu có bệnh đái tháo đường đi kèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ xương khớp càng rầm rộ hơn do thoái hóa khớp và do tổn thương thần kinh ngoại biên.

Điều trị béo phì ở trẻ em

Nguyên tắc chung là giảm năng lượng ăn vào và tăng năng lượng tiêu hao. Tuy nhiên, trẻ em là một cơ thể đang phát triển nên việc điều trị phải hết sức chuyên nghiệp để không thiếu chất dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ.

Mục tiêu điều trị béo phì của trẻ không phải chỉ là giảm cân. Trái lại nếu giảm cân không đúng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Tùy theo tình trạng sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có những mục tiêu điều trị khác nhau. Thứ tự ưu tiên như sau:

Mục tiêu quan trọng nhất là thay đổi hành vi về ăn uống và tăng cường lối sống năng động.

Mục tiêu tiếp là điều trị những biến chứng (nếu có).

Mục tiêu sau cùng mới là giảm cân. Tốc độ giảm cân thích hợp là khoảng 500g mỗi tháng. Tùy từng trường hợp sẽ có những mức độ và mục tiêu giảm số lượng cân nặng khác nhau.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ